Chapter 5 of 11Chương 5/11 10 min10 phút
Planning the university yearsLên kế hoạch cho những năm đại học
You cannot cram what employers look for in a beginner into your final semester. Chapter 4 set out those qualities and how an interview tests them; this chapter turns them into a plan for your years at university, stage by stage. It starts with a question: how much does the name of your school matter?
Những gì nhà tuyển dụng tìm ở người mới vào nghề thì không thể dồn hết vào học kỳ cuối. Chương 4 đã nêu những điều ấy và cách buổi phỏng vấn kiểm tra chúng; chương này sắp chúng thành một kế hoạch cho những năm đại học của bạn, theo từng giai đoạn. Trước hết là một câu hỏi: tên trường quan trọng đến mức nào?
In this chapter
Trong chương này
- What a school’s name decides, and what it does not
- Why the foundations come first, worked out with pencil and paper
- When to start English, and what to read about the field
- Why grades, projects and an internship matter, and what to do at each stage
- Tên trường quyết định được gì và không quyết định được gì
- Vì sao nền tảng phải đi trước, và vì sao nên học bằng giấy bút
- Nên bắt đầu học tiếng Anh từ khi nào, và đọc gì để hiểu ngành
- Vì sao điểm số, đồ án và kỳ thực tập đều quan trọng, và mỗi giai đoạn nên làm gì
What a school's name decides, and what it does not
Tên trường quyết định được gì và không quyết định được gì
If you study at one of the best-known universities, you may start with some advantages, such as your school’s long-standing links with companies.
Nếu học ở một trường đại học hàng đầu, bạn có thể có sẵn vài lợi thế ngay từ đầu, chẳng hạn mối quan hệ lâu năm giữa trường với doanh nghiệp.
Still, the name is only one factor at the start, and it gets nobody hired on its own. After it come the tests and the interviews of chapter 4, and there what counts is how well you learn on your own and grasp a problem.
Dù vậy, tên trường chỉ là một yếu tố lúc ban đầu, và tự nó không giúp ai được nhận vào làm. Sau đó còn các bài kiểm tra và những buổi phỏng vấn như ở chương 4, và ở đó, điều quyết định là bạn tự học và nắm bắt vấn đề tốt đến đâu.
If you are not at a top school, that need not close the door. The most sought-after jobs are few, but the industry has many more kinds of job than chip design alone (chapters 2 and 3). Work out early where you stand and which of those jobs suit you, and you will have a real target and the time to prepare for it.
Không học trường hàng đầu thì cánh cửa cũng không vì thế mà đóng lại. Những vị trí được săn đón nhất thì ít, nhưng ngành chip còn nhiều loại việc khác ngoài thiết kế chip (chương 2 và 3). Sớm biết mình đang đứng ở đâu và việc nào hợp với mình thì sẽ có một mục tiêu cụ thể, và đủ thời gian để chuẩn bị.
Maths and physics come first, learned with pencil and paper
Nền tảng toán và vật lý đi trước, và nên học bằng giấy bút
Every chip obeys physics and mathematics, from the way a transistor switches to the way a signal travels along a wire. So use your first years for the foundations: maths, physics and circuits, learned until the principles are your own.
Mọi con chip đều tuân theo vật lý và toán học, từ cách một bóng bán dẫn (transistor) đóng ngắt cho đến cách tín hiệu truyền đi trên một sợi dây. Vì vậy, những năm đầu dành để xây nền tảng: toán, vật lý và mạch điện, học cho đến khi các nguyên lý thật sự thành của mình.
The best tool for that is the plainest one: pencil and paper. Work problems by hand, apply the formulas yourself, and check that each result makes physical sense. Do this, and you will be better placed to learn any design tool, the most advanced included, and to tell when a tool’s answer is wrong; chapter 9 comes back to this for AI. Skip it, and you will have nothing to check the tool against.
Công cụ tốt nhất cho việc này lại là thứ giản dị nhất: cây bút chì và tờ giấy. Tức là tự tay giải bài, tự áp dụng công thức, rồi kiểm tra xem mỗi kết quả có hợp lý về mặt vật lý hay không. Học như thế, sau này bạn sẽ dễ làm chủ các công cụ thiết kế hơn, kể cả những công cụ hiện đại nhất, và nhận ra được khi nào công cụ đưa ra đáp án sai. Chương 9 sẽ quay lại điều này khi bàn về AI. Bỏ qua bước ấy thì trong tay chẳng có gì để đối chiếu với công cụ.
The best tool for the foundations is the plainest one: pencil and paper.
Công cụ tốt nhất để xây nền tảng lại là thứ giản dị nhất: cây bút chì và tờ giấy.
Start learning English in your first years
Nên học tiếng Anh từ những năm đầu
Most of what is written about chips is in English, and a working command of it is one of the qualities employers look for in a beginner (chapter 4). It takes steady effort, so start early.
Phần lớn tài liệu về chip được viết bằng tiếng Anh, và dùng được tiếng Anh là một trong những phẩm chất nhà tuyển dụng tìm ở người mới vào nghề (chương 4). Học ngoại ngữ cần bền bỉ, vì vậy nên bắt đầu từ sớm.
Mr. Dương Minh Tiến, a co-founder of VSAP Lab as of 2026, started late. By his own account, his English was not good at university, and he only took it seriously in his last year before graduating, when he put all his time into it. Afterwards he won a scholarship to study abroad and earned a master’s at RMIT University as an Intel scholar. Looking back in 2025, he named the most important thing his IELTS study taught him: critical thinking. Writing its essays trained him to look at both sides of a question, the strengths and the shortcomings, a habit he uses as an engineer when he researches or judges a topic.
Ông Dương Minh Tiến, đồng sáng lập VSAP Lab tính đến năm 2026, từng bắt đầu khá muộn. Theo lời ông kể, hồi đại học tiếng Anh của ông cũng không hẳn là tốt. Mãi đến năm cuối, trước khi tốt nghiệp, ông mới thật sự tập trung vào tiếng Anh và dồn hết thời gian, tâm sức để cải thiện. Sau đó ông giành học bổng du học, học thạc sĩ ở Đại học RMIT theo diện học bổng của Intel. Nhìn lại vào năm 2025, ông cho rằng điều quan trọng nhất mà việc luyện IELTS dạy ông là tư duy phản biện. Viết bài luận buộc ông tập nhìn cả hai mặt của một vấn đề, mặt tích cực lẫn mặt thiếu sót, và ông vẫn giữ thói quen ấy trong nghề kỹ sư, mỗi khi nghiên cứu hay đánh giá một đề tài.
That late, all-out year worked for him. Start in your first years, and you will not have to squeeze everything into one. Begin with general English: a course for an exam such as IELTS is a good start, and its essays train the same habit of weighing both sides. The English of the field comes later, mostly through reading on your own. What cannot wait is the basic English to work with colleagues: explaining an idea, giving a presentation, stating your view in a discussion.
Năm cuối dốc sức ấy đã mang lại kết quả cho ông. Nhưng bắt đầu ngay từ những năm đầu thì không phải dồn mọi thứ vào một năm. Bước đầu là tiếng Anh tổng quát: một khóa luyện thi như IELTS là điểm xuất phát tốt, và các bài luận trong đó rèn đúng thói quen cân nhắc hai mặt kể trên. Tiếng Anh chuyên ngành sẽ đến sau, phần lớn qua việc tự đọc tài liệu. Điều không thể chờ là vốn tiếng Anh căn bản để làm việc với đồng nghiệp: trình bày một ý tưởng, thuyết trình, nêu được quan điểm của mình khi thảo luận.
Keep your grades up, do your projects well and read about the field
Giữ điểm số tốt, làm đồ án và đọc tài liệu chuyên ngành
Grades matter more than you might think. A transcript says little about how you will do the job, but it does show focus and discipline, because that is what it takes to keep grades high. Some firms may screen on grades first, so look after yours from the first semester, whatever your school.
Điểm số quan trọng hơn bạn tưởng. Bảng điểm không nói lên nhiều về chuyện bạn sẽ làm việc ra sao, nhưng cho thấy sự tập trung và tính kỷ luật, vì phải có những điều ấy mới giữ được điểm cao. Một số công ty có thể lọc hồ sơ theo điểm ngay từ vòng đầu, nên dù học trường nào cũng cần chăm chút điểm số từ học kỳ đầu tiên.
Projects matter in a different way. Your major assignments, your graduation project and any work you do with lecturers or classmates are what an interviewer may ask you about as a new graduate (chapter 4). Choose them with that in mind, and do them so that you can explain every part you did, the problems you met and how you solved them.
Đồ án thì quan trọng theo một cách khác. Các bài tập lớn, đồ án tốt nghiệp và những dự án làm cùng thầy cô hay bạn học chính là những gì người phỏng vấn có thể hỏi khi bạn mới ra trường (chương 4). Vì thế, lúc chọn đề tài nên nghĩ trước đến điều đó, và làm sao để giải thích được từng phần mình đã làm, những khó khăn đã gặp và cách vượt qua.
Reading about the field fills in what courses leave out, and two sites make a good start. Semiconductor Engineering (semiengineering.com), launched in October 2013, publishes in-depth articles on designing, testing, verifying and manufacturing chips.5.1 TrendForce, a market-research firm established in 2000 with headquarters in Taipei, publishes news and reports on semiconductors and the wider technology market.5.2 If you learn better from pictures, short videos of five or ten minutes on YouTube explain a manufacturing step or a corner of the industry well.
Đọc tài liệu chuyên ngành sẽ bù vào những gì giáo trình chưa nói tới, và có hai trang nên bắt đầu trước. Semiconductor Engineering (semiengineering.com), ra đời tháng 10/2013, đăng những bài viết chuyên sâu về thiết kế, kiểm thử, kiểm định (verification) và sản xuất chip.5.1 TrendForce, công ty nghiên cứu thị trường thành lập năm 2000, đặt trụ sở ở Đài Bắc, đăng tin tức và báo cáo về bán dẫn và thị trường công nghệ nói chung.5.2 Nếu bạn dễ tiếp thu qua hình ảnh hơn, trên YouTube có những video dài năm, mười phút giải thích rõ một bước trong quy trình sản xuất hay một mảng của ngành.
Know your target employer, and take an internship
Tìm hiểu công ty mình nhắm tới, rồi đi thực tập
By your middle years, pick a few companies you would like to work for. Find out what each one makes, which jobs it hires for and what its job descriptions ask. Meet people who already work in the field, and learn from them what the work is like day to day. That kind of preparation is easy to notice in an interview: it shows someone ready for the job.
Những năm giữa là lúc chọn vài công ty mình muốn vào, rồi tìm hiểu xem mỗi nơi làm sản phẩm gì, tuyển những vị trí nào, bản mô tả công việc đòi hỏi những gì. Cũng nên gặp gỡ những người đang làm trong ngành, nghe họ kể công việc hằng ngày ra sao. Người phỏng vấn dễ nhận ra sự chuẩn bị như thế: nó cho thấy một người đã sẵn sàng cho công việc.
Then get inside a company before you graduate. An internship gives you real experience to explain at interview (chapter 4). Some firms in Vietnam tie internships to scholarships, and some take final-year students as interns directly; chapter 3 gives dated examples, and the questions at the end of this chapter say where to look. Once you are in, chapter 4’s advice applies from the first day: ask questions, and learn from the engineers around you.
Bước tiếp theo là tìm cách vào làm ở một công ty trước khi tốt nghiệp. Kỳ thực tập cho bạn kinh nghiệm thật để kể trong buổi phỏng vấn (chương 4). Một số công ty ở Việt Nam gắn thực tập với học bổng, một số khác nhận thẳng sinh viên năm cuối vào thực tập. Chương 3 có những ví dụ kèm thời điểm, còn phần câu hỏi cuối chương này gợi ý nơi tìm. Khi đã vào công ty, lời khuyên ở chương 4 dùng được ngay từ ngày đầu: chịu khó hỏi, và học từ những kỹ sư quanh mình.
What to do in the early, middle and final years
Nên làm gì ở những năm đầu, những năm giữa và năm cuối
The plan runs from foundations and general English in the early years, through major assignments and target companies in the middle years, to the graduation project, an internship and interviews in the final year. The table puts the advice of this chapter and the last together. Programmes differ in length, so treat the stages as rough.
Kế hoạch đi từ nền tảng và tiếng Anh tổng quát ở những năm đầu, qua các bài tập lớn và công ty mục tiêu ở những năm giữa, đến đồ án tốt nghiệp, thực tập và phỏng vấn ở năm cuối. Bảng dưới đây gộp lời khuyên của chương này và chương trước. Mỗi chương trình đại học dài ngắn khác nhau, nên các giai đoạn chỉ là ước chừng.
| Stage | Courses and grades | English | Projects and reading | Employers |
|---|---|---|---|---|
| Early years (about the first two) | Maths, physics and circuits, worked by hand until the principles are clear; good grades from the first semester | General English, for example an IELTS course; the habit of reading in English | Read Semiconductor Engineering for how chips are made and TrendForce for the market, and watch short explainer videos, to see what the field is | Look at the jobs beyond design (chapter 3) and note the ones that draw you |
| Middle years (about the second and third) | The core courses of the major; keep grades high | English for presentations, discussions and technical reading | Major assignments chosen and done so that you can explain every part; a lab project if one is open | Pick a few target companies, read their job descriptions and meet people who work there; apply for scholarships that lead to internships |
| Final year | The graduation project, done in depth | Working English, spoken and written: a CV in English, and your project explained in English | Make the graduation project the main story of your interviews | An internship; prepare “Tell me about yourself” and your own questions for the employer (chapter 4); apply early |
| Giai đoạn | Môn học và điểm số | Tiếng Anh | Đồ án và đọc tài liệu | Nhà tuyển dụng |
|---|---|---|---|---|
| Những năm đầu (khoảng hai năm đầu) | Toán, vật lý và mạch điện, tự tay giải bài cho đến khi nắm chắc nguyên lý; giữ điểm tốt ngay từ học kỳ đầu | Tiếng Anh tổng quát, chẳng hạn một khóa IELTS; tập thói quen đọc bằng tiếng Anh | Đọc Semiconductor Engineering để biết chip được làm ra thế nào, TrendForce để theo dõi thị trường, và xem các video giải thích ngắn để hình dung ngành này gồm những gì | Tìm hiểu các công việc ngoài thiết kế (chương 3) và ghi lại những việc khiến mình hứng thú |
| Những năm giữa (khoảng năm hai, năm ba) | Các môn cốt lõi của chuyên ngành; giữ điểm cao | Tiếng Anh để thuyết trình, thảo luận và đọc tài liệu kỹ thuật | Chọn và làm các bài tập lớn sao cho giải thích được từng phần; tham gia dự án ở phòng thí nghiệm nếu có | Chọn vài công ty mục tiêu, đọc bản mô tả công việc và gặp những người đang làm ở đó; nộp hồ sơ các học bổng có kèm thực tập |
| Năm cuối | Làm thật sâu đồ án tốt nghiệp | Tiếng Anh dùng được trong công việc, cả nói lẫn viết: CV bằng tiếng Anh, trình bày đồ án bằng tiếng Anh | Lấy đồ án tốt nghiệp làm câu chuyện chính trong các buổi phỏng vấn | Đi thực tập; chuẩn bị phần giới thiệu bản thân và những câu hỏi của mình dành cho nhà tuyển dụng (chương 4); nộp hồ sơ sớm |
Use the rest of the book as your plan. Chapter 3’s self-test helps you pick two or three rows of its roles table to aim at, and its section on how a beginner gets in describes the internship and graduate programmes to look for. Chapter 4 covers the CV and the interview, including the questions to prepare. If you are deciding between a master’s degree and a job, chapter 6 sets out when each one helps.
Kế hoạch của bạn nằm trong các chương còn lại của cuốn sách. Phần tự kiểm tra ở chương 3 giúp chọn ra hai, ba vị trí trong bảng của chương ấy để nhắm tới. Phần nói về cách người mới vào được ngành, cũng ở chương ấy, mô tả các đợt thực tập và chương trình dành cho sinh viên mới ra trường. Chương 4 bàn về CV và buổi phỏng vấn, kể cả những câu hỏi nên chuẩn bị. Nếu đang phân vân giữa học thạc sĩ và đi làm, chương 6 trình bày khi nào mỗi hướng có ích.
Is a language besides English worth learning?Ngoài tiếng Anh, có nên học thêm ngoại ngữ nào khác không?
English comes first: it is the language of the field’s documents and of most international teams. A second language pays off when you aim at a particular country, and some programmes and jobs ask for one. As of October 2026, I-Shou University, one of the universities in Taiwan’s INTENSE programme, asks applicants to its Chinese-taught tracks, semiconductor engineering among them, for Chinese at level A2 of the Test of Chinese as a Foreign Language (TOCFL). Students on its English-taught tracks must reach A2 by their third semester to keep the scholarship.5.3 In Japan, a September 2026 posting for a mechanical facility engineer at TSMC’s plant in Kumamoto (JASM) asked for business-level Japanese at level N2, with conversational Mandarin a plus.5.4 That is one posting for one plant role, not a rule for every job. Chapter 6 covers study abroad.
Tiếng Anh vẫn phải đi trước: đó là ngôn ngữ của tài liệu chuyên ngành và của hầu hết các nhóm làm việc quốc tế. Ngoại ngữ thứ hai có ích khi bạn nhắm tới một quốc gia cụ thể, và một số chương trình học hay công việc có yêu cầu điều đó. Tính đến tháng 10/2026, Đại học I-Shou, một trong các trường tham gia chương trình INTENSE của Đài Loan, yêu cầu người nộp hồ sơ vào các ngành dạy bằng tiếng Trung, trong đó có kỹ thuật bán dẫn, có tiếng Trung trình độ A2 theo bài thi TOCFL (Test of Chinese as a Foreign Language). Sinh viên các ngành dạy bằng tiếng Anh phải đạt A2 chậm nhất vào học kỳ thứ ba để giữ học bổng.5.3 Ở Nhật Bản, một tin tuyển kỹ sư cơ khí mảng hạ tầng (facility engineer) tại nhà máy của TSMC ở Kumamoto (JASM), đăng tháng 9/2026, yêu cầu tiếng Nhật ở mức dùng trong công việc, trình độ N2, và biết giao tiếp tiếng Trung là một lợi thế.5.4 Đó chỉ là một tin tuyển dụng cho một vị trí ở nhà máy, không phải quy định chung cho mọi công việc. Chuyện du học được bàn ở chương 6.
Should I intern in Vietnam or abroad, and how do I find an internship?Nên thực tập ở Việt Nam hay ở nước ngoài, và tìm chỗ thực tập bằng cách nào?
Both are possible, and the routes differ. Chapter 3 gives dated examples in Vietnam, through a scholarship and through a posting, and chapter 6 one from abroad.
Cả hai đều có thể, và mỗi nơi có những ngả đường riêng. Chương 3 có những ví dụ kèm thời điểm ở Việt Nam, qua học bổng và qua tin tuyển dụng, còn chương 6 có một ví dụ ở nước ngoài.
To find the next round, watch the careers pages of the companies you are aiming at (search by country and the word “intern”), your faculty’s news page, where firms’ internship notices can appear, and scholarship calendars. Have an English CV and your transcript ready before the window opens.
Để không lỡ đợt sau, nên theo dõi trang tuyển dụng của những công ty mình nhắm tới (lọc theo quốc gia và từ khóa “intern”), trang tin của khoa, nơi có thể có thông báo tuyển thực tập của doanh nghiệp, và lịch nhận hồ sơ học bổng. CV tiếng Anh và bảng điểm thì cần có sẵn trước khi cổng nộp hồ sơ mở.
What English level do companies ask for?Các công ty yêu cầu trình độ tiếng Anh ở mức nào?
A chip posting may state the need in words rather than as a score: Marvell’s Đà Nẵng verification internship, for instance, asks for “Good English” and names no test.5.5 The interview does the rest (chapter 4). Study-abroad programmes do set scores, and they make a useful yardstick. As of October 2026, KAIST in South Korea accepts IELTS Academic 6.5, among several tests, from international graduate applicants; the electrical engineering department of National Tsing Hua University in Taiwan accepts TOEFL iBT 80 (old 0 to 120 scale) or IELTS 6.5 from graduate students entering since Fall 2020; and UC San Diego’s electrical and computer engineering department accepts an IELTS band of at least 7, among five options.5.6, 5.7, 5.8 Chapter 6 says more about studying abroad.
Tin tuyển của công ty chip có thể chỉ nêu yêu cầu bằng lời chứ không bằng điểm số: chẳng hạn, tin tuyển thực tập verification của Marvell ở Đà Nẵng ghi “Good English” (tiếng Anh tốt) mà không nhắc tới bài thi nào.5.5 Phần còn lại do buổi phỏng vấn quyết định (chương 4). Các chương trình du học thì có đặt mức điểm, và có thể dùng làm thước đo tham khảo. Tính đến tháng 10/2026, KAIST (Hàn Quốc) chấp nhận IELTS Academic 6,5, trong số nhiều bài thi, từ ứng viên sau đại học quốc tế; Khoa Kỹ thuật Điện, Đại học Quốc lập Thanh Hoa (Đài Loan), chấp nhận TOEFL iBT 80 (thang cũ, tối đa 120) hoặc IELTS 6,5 từ học viên sau đại học nhập học từ mùa thu 2020; còn Khoa Kỹ thuật Điện và Máy tính của UC San Diego chấp nhận IELTS tối thiểu 7, trong số năm lựa chọn.5.6, 5.7, 5.8 Chương 6 bàn kỹ hơn về chuyện du học.
This month, pick one article on Semiconductor Engineering, read it in English, then explain what it says out loud in English, to a friend or to your phone. The words you reached for and could not find are your vocabulary list for the weeks after.
Trong tháng này, bạn thử chọn một bài trên Semiconductor Engineering, đọc bằng tiếng Anh, rồi nói lại nội dung bằng tiếng Anh cho một người bạn nghe, hoặc tự ghi âm bằng điện thoại. Những từ muốn dùng mà nhất thời chưa nghĩ ra chính là danh sách từ vựng cho những tuần tiếp theo.