Chapter 7 of 9Chương 7/9 7 min7 phút

Why a fab costs a fortuneVì sao nhà máy chip đắt đỏ

A leading-edge chip factory costs twenty billion dollars or more, yet the building itself is one of the cheapest parts. Most of the money goes into what happens inside, where machines print metal lines only nanometres wide and build films one atomic layer at a time.

Một nhà máy sản xuất chip (wafer fab) tiên tiến nhất ngày nay tốn từ hai mươi tỷ đô la trở lên, nhưng bản thân tòa nhà lại là một trong những phần rẻ nhất. Phần lớn số tiền nằm ở những gì diễn ra bên trong, nơi máy móc in những đường kim loại chỉ rộng cỡ nanomet và dựng màng mỏng theo từng lớp nguyên tử một.

In this chapter

Trong chương này

  • Where the $20 billion or more for a leading-edge fab goes, from clean rooms to vibration control
  • Which machines print and carve a chip, and how precise they have to be
  • How films are built one atomic layer at a time
  • How the transistor went from flat to fins to stacked sheets, and what may come next
  • Why 700 steps at 99% success each would leave almost no working chips
  • Hơn hai mươi tỷ đô la xây một fab tiên tiến được chi vào đâu, từ phòng sạch đến hệ thống chống rung
  • Những loại máy nào dùng để in và khắc chip, và chúng phải đạt độ chính xác đến đâu
  • Màng mỏng được dựng theo từng lớp nguyên tử như thế nào
  • Bóng bán dẫn (transistor) đã đi từ dạng phẳng sang dạng vây, rồi đến các tấm xếp chồng ra sao, và điều gì có thể đến tiếp theo
  • Vì sao 700 bước, mỗi bước thành công 99%, sẽ gần như không để lại con chip nào dùng được

The building is one of the cheapest parts

Tòa nhà chỉ chiếm một phần nhỏ chi phí

A , the factory where chips are made, is one of the largest investments a company can make. A leading-edge fab now costs $20 billion or more. , for example, plans to invest $165 billion in Arizona, for six fabs, two advanced packaging plants and a research centre. Yet the walls and the roof take only a small share of it. The money goes into what is put inside, and into the conditions the building has to hold every hour of every day.

Xây một là một trong những khoản đầu tư lớn nhất mà một doanh nghiệp có thể bỏ ra. Một fab tiên tiến ngày nay tốn từ 20 tỷ đô la trở lên; chẳng hạn, dự kiến đầu tư 165 tỷ đô la tại bang Arizona (Mỹ) cho sáu fab, hai nhà máy đóng gói tiên tiến và một trung tâm nghiên cứu. Thế nhưng tường và mái chỉ chiếm một phần nhỏ. Tiền chủ yếu đổ vào những gì được đặt bên trong, cùng những điều kiện mà tòa nhà phải giữ ổn định suốt ngày đêm.

Start with the air. Temperature and humidity inside a fab are held almost perfectly steady. The production floor is a , and the most demanding areas meet what the industry still calls class 10 or class 100: no more than 10 to 100 particles half a micrometre or larger in each cubic foot of air (about 28 litres).

Trước hết là không khí. Trong fab, nhiệt độ và độ ẩm gần như không bao giờ xê dịch. Khu vực sản xuất là . Những khu khắt khe nhất đạt mức mà trong ngành vẫn quen gọi là class 10 hay class 100: mỗi foot khối không khí (chừng 28 lít) chỉ chứa tối đa 10 đến 100 hạt bụi cỡ nửa micromet trở lên.

Then there is vibration. The tools in a fab place their work to within , so the building is designed to isolate them from shaking. It has to be: at these scales even a small vibration can blur what a tool prints and spoil the wafers passing through it.

Tiếp đến là rung chấn. Máy móc trong fab định vị từng chi tiết với sai số chỉ vài , nên người ta phải thiết kế tòa nhà sao cho chúng cách ly khỏi rung động. Không thể khác được: ở kích thước này, chỉ một rung chấn nhỏ cũng đủ làm nhòe những gì cỗ máy đang in và làm hỏng các tấm wafer đi qua nó.

The machines that print and carve must be precise to within nanometres

Những cỗ máy in và khắc phải chính xác đến từng nanomet

Chapter 6 followed a chip through the steps that build it, repeated layer after layer. This chapter looks at the machines behind those steps, because they, far more than the building, are the main cost of a fab.

Chương 6 đã theo chân con chip qua các bước tạo nên nó, lặp đi lặp lại hết lớp này đến lớp khác. Chương này nhìn vào những cỗ máy đứng sau các bước ấy, bởi chính chúng mới là khoản chi chủ yếu của một fab, lớn hơn tòa nhà rất nhiều.

The best known is the tool, which prints the chip’s pattern with light. As shrink, the lines it prints shrink with them. The most advanced machines use , light with a wavelength of 13.5 nanometres. According to their maker, , today’s EUV systems print features about 13 nanometres across, and the newest models, whose optics take in light at a wider angle so they can print finer detail, about 8.

Nổi tiếng nhất là máy , thiết bị dùng ánh sáng để in hình mẫu của con chip lên . càng nhỏ thì những đường nét nó phải in càng mảnh. Các máy tiên tiến nhất dùng , với ánh sáng cực tím bước sóng 13,5 nanomet. Theo , hãng chế tạo loại máy này, các hệ thống EUV hiện nay in được những chi tiết rộng khoảng 13 nanomet. Thế hệ mới nhất có hệ quang học thu ánh sáng ở góc rộng hơn, nên in được chi tiết mảnh hơn nữa, xuống tới khoảng 8 nanomet.

Lithography is only one family of tools. Beside it stand the machines for the other steps chapter 6 described, , and , each one highly specialised, and a fab needs many of each.

Máy quang khắc mới chỉ là một nhóm thiết bị. Bên cạnh nó là máy móc cho các bước khác mà chương 6 đã mô tả, gồm máy , máy và máy , loại nào cũng chuyên dụng cao, và một fab cần rất nhiều máy mỗi loại.

To picture the scale, take a human hair, about a tenth of a millimetre thick. Split it into a hundred thousand strands and each one is about a nanometre wide. The metal lines that link a modern chip’s transistors are measured in nanometres, and each new layer has to line up with the one beneath it to within nanometres, across the whole . If the alignment slips, wires that were meant to touch never meet.

Để hình dung được kích thước ấy, hãy lấy một sợi tóc, dày chừng một phần mười milimet. Chẻ nó thành một trăm nghìn sợi, mỗi sợi sẽ chỉ rộng khoảng một nanomet. Những đường kim loại nối các transistor trên một con chip hiện đại được đo bằng nanomet, và mỗi lớp mới phải khớp với lớp bên dưới với sai lệch chỉ vài nanomet, trên toàn bộ tấm wafer. Chỉ cần lệch một chút, những đường dây lẽ ra phải chạm nhau sẽ không bao giờ gặp nhau.

Every time the transistor shrinks, the lines and the tolerances shrink too, and the tools have to become more precise with them. That precision is a large part of what a fab pays for.

Mỗi lần transistor nhỏ đi, đường dây và dung sai cũng thu hẹp theo, buộc máy móc phải chính xác hơn. Một phần lớn số tiền mà fab bỏ ra là để trả cho độ chính xác ấy.

Câu hỏi thường gặp Common questions
If transistors are only nanometres across, how are they wired to each other?Transistor chỉ nhỏ cỡ nanomet thì làm sao nối chúng với nhau?

The same way the rest of the chip is built: by lithography. EUV tools print the pattern of narrow trenches, a little more than ten nanometres wide at the finest levels, onto the insulating layers above the transistors. The trenches are etched out, and metal, today mostly copper, fills them according to the design. The process repeats level after level. Stretched end to end, the result is the copper wiring that chapter 6 described: something like 100 kilometres of it.

Cũng bằng cách dựng nên phần còn lại của con chip: quang khắc. Máy EUV in hình những rãnh hẹp, ở những tầng mảnh nhất chỉ rộng hơn mười nanomet một chút, lên các lớp cách điện phía trên transistor. Các rãnh ấy được khắc ra, rồi kim loại, ngày nay chủ yếu là đồng, lấp vào theo đúng bản thiết kế. Quá trình này lặp lại qua từng tầng. Nếu nối dài tất cả lại, ta có hệ dây đồng mà chương 6 đã mô tả: chừng 100 cây số.

Some tools deposit and etch one atomic layer at a time

Có những cỗ máy lắng đọng và khắc theo từng lớp nguyên tử một

Some of the hardest work in a fab happens in films. A is a layer of material laid over the wafer, and at the most advanced some films are only a few atoms thick. Some tools now deposit material, or etch it away, one atomic layer at a time, working at the scale of the : a tenth of a nanometre, roughly the size of an atom.

Một trong những phần việc khó nhất của fab nằm ở các lớp màng. là một lớp vật liệu phủ lên wafer, và ở những tiên tiến nhất, có lớp chỉ dày vài nguyên tử. Một số máy ngày nay lắng đọng vật liệu, hoặc khắc bỏ vật liệu, theo từng lớp nguyên tử một, ở cỡ : một phần mười nanomet, xấp xỉ kích thước một nguyên tử.

The best known of these methods is . Its trick is a reaction that stops by itself. A chemical is pulsed over the wafer and sticks only where the surface still has room; once every spot is taken, no more can attach. The chamber is flushed, a second chemical completes the reaction, and the cycle begins again. Each cycle adds a slice of film thinner than a single atomic layer, so the final thickness can be set almost atom by atom.

Phương pháp tiêu biểu nhất là . Bí quyết của nó là một phản ứng tự dừng lại. Người ta bơm một loại hóa chất lên wafer theo từng đợt ngắn, và hóa chất này chỉ bám vào những chỗ trên bề mặt còn trống; khi mọi chỗ đã kín, không phân tử nào bám thêm được nữa. Buồng máy sau đó được thổi sạch bằng khí trơ, một hóa chất thứ hai hoàn tất phản ứng, rồi chu trình lại bắt đầu. Mỗi chu trình chỉ thêm một lớp màng mỏng hơn cả một lớp nguyên tử, nhờ vậy độ dày cuối cùng có thể điều chỉnh gần như đến từng nguyên tử.

Picture it at a human scale. If an atom were the size of a ball and a chip’s surface were as large as the Moon, full of craters and hollows, ALD would coat that whole surface one thin layer at a time, never piling one ball on top of another and reaching into every crater as easily as across the flat plains. Coating the walls and floors of deep, narrow structures that evenly is exactly what today’s three-dimensional transistors need.

Hãy thử hình dung ở một kích thước quen thuộc hơn. Giả sử mỗi nguyên tử to bằng một quả bóng, còn bề mặt con chip rộng như bề mặt Mặt Trăng, lồi lõm đầy hố và hang. ALD sẽ phủ kín toàn bộ bề mặt ấy từng lớp mỏng một, không bao giờ để quả bóng này chồng lên quả bóng kia, và len xuống đáy từng hố dễ dàng như khi trải trên vùng đồng bằng. Khả năng phủ đều lên thành và đáy của những cấu trúc sâu và hẹp như thế chính là điều mà các transistor ba chiều ngày nay cần đến.

The transistor changes shape

Transistor thay đổi hình dạng

The tools also have to keep up with a transistor that keeps changing shape. For decades it was flat. In a , current flows along the surface of the silicon and a gate on top switches it on and off. As it shrank, the gate lost its grip on the channel beneath it, and current leaked even when the switch was off. So the channel was stood on its edge. In a , which entered production in 2012 at ’s 22 nm generation, the gate wraps a thin fin of silicon on three sides.

Máy móc còn phải chạy theo một transistor liên tục đổi hình dạng. Suốt nhiều thập kỷ, transistor nằm phẳng. Trong , dòng điện chạy dọc bề mặt silicon, còn cổng (gate) đặt phía trên có nhiệm vụ bật và tắt nó. Khi transistor nhỏ dần, cổng không còn kiểm soát nổi kênh dẫn bên dưới, nên dòng điện vẫn rò qua ngay cả khi công tắc đã tắt. Lời giải là dựng kênh dẫn đứng lên. Trong , cấu trúc đi vào sản xuất năm 2012 ở thế hệ 22 nm của , cổng ôm lấy một chiếc vây silicon mảnh từ ba phía.

The next step was to wrap the channel completely. transistors stack several thin sheets of silicon, called nanosheets, and surround each one with the gate, the way a hand closes all the way round a pencil. began making them at its 3 nm generation in 2022, and TSMC moved to them with its 2 nm process, in volume production since the end of 2025. Names like 3 nm and 2 nm are generation labels, not measurements. The changes may not stop there, and the chart below shows what , the Belgian research centre, expects to follow.

Bước kế tiếp là bao kín hoàn toàn kênh dẫn. Transistor xếp chồng nhiều tấm silicon mỏng, gọi là nanosheet, và cổng bao quanh từng tấm một, như bàn tay nắm trọn một cây bút chì. bắt đầu sản xuất loại transistor này ở thế hệ 3 nm từ năm 2022, còn TSMC chuyển sang chúng với quy trình 2 nm, sản xuất hàng loạt từ cuối năm 2025. Những cái tên như 3 nm hay 2 nm chỉ là nhãn của từng thế hệ, không phải số đo. Những thay đổi ấy có lẽ chưa dừng ở đây, và biểu đồ dưới đây cho thấy những gì , trung tâm nghiên cứu của Bỉ, dự kiến sẽ đến tiếp.

Chart of half pitch in nanometres against year of introduction, falling from about 180 nm to below 10 nm, with planar, FinFET, gate-all-around nanosheet and CFET points and electron-microscope insets of each transistor shape, above a band showing the lithography used in each era Chart of half pitch in nanometres against year of introduction, falling from about 180 nm to below 10 nm, with planar, FinFET, gate-all-around nanosheet and CFET points and electron-microscope insets of each transistor shape, above a band showing the lithography used in each era
PLATE 7.1HÌNH 7.1 Khi hình mẫu được vẽ ngày càng mảnh, transistor cũng đổi hình dạng: planar, FinFET, GAA nanosheet, rồi có thể là CFET, cấu trúc xếp chồng cặp transistor loại n và loại p lên nhau. Theo imec, biến thể forksheet (không có trên biểu đồ) sẽ kéo dài thời kỳ nanosheet ít nhất đến node A10, còn CFET vào sản xuất hàng loạt từ A7. Các mốc năm chỉ là ước chừng.As its patterns were drawn ever finer, the transistor changed shape: planar, FinFET, gate-all-around nanosheets, then perhaps CFET, which stacks a chip's paired n-type and p-type transistors one on the other. imec expects a forksheet variant, not shown, to carry nanosheets to at least its A10 node, and CFET in mass production from A7. The years are approximate. Source: N. Horiguchi, imec, VLSI-TSA 2024

Each new shape asks something new of the fab. imec notes that these architectures reach up into the wiring just above the transistors, calling for new metals such as ruthenium and molybdenum and new ways of building those first layers.

Mỗi hình dạng mới lại đặt ra cho fab những đòi hỏi mới. imec lưu ý rằng các kiến trúc này ảnh hưởng lên cả những tầng dây nối nằm ngay trên transistor, đòi hỏi kim loại mới như ruteni (Ru), molypden (Mo) và những cách mới để dựng các tầng đầu tiên ấy.

Seven hundred steps leave almost no room for error

Bảy trăm bước quy trình gần như không chừa chỗ cho sai sót

Quick questionThử đoán xem

All of this takes time. How long does it take to make one CPU chip?Tất cả những việc này đều cần thời gian. Sản xuất một con chip CPU mất bao lâu?

Show the answerXem đáp án

About 3 months. A finished wafer spends about three months in the fab on average, and as long as 20 weeks, close to five months, on the most advanced processes. Compare that with the two to three years it takes to design the chip in the first place, as chapter 5 showed.

Khoảng 3 tháng. Trung bình, một tấm wafer mất khoảng ba tháng trong fab mới hoàn thành, còn với những quy trình tiên tiến nhất có thể kéo dài tới 20 tuần, gần năm tháng. Con số ấy còn khiêm tốn so với hai đến ba năm để thiết kế con chip, như chương 5 đã cho thấy.

Quick questionThử đoán xem

And how many process steps does one CPU chip go through?Vậy một con chip CPU phải đi qua bao nhiêu bước quy trình?

Show the answerXem đáp án

About 700. Over those months a leading-edge wafer goes through hundreds of process steps; one industry count puts the total at up to 1,400. Seven hundred is a fair round number.

Khoảng 700. Trong mấy tháng ấy, một tấm wafer tiên tiến đi qua hàng trăm bước quy trình; theo một thống kê của ngành, có thể lên tới 1.400 bước. Lấy tròn bảy trăm là hợp lý.

Seven hundred steps make a simple point about , the share of chips that come out working. Suppose each step succeeded 99% of the time. That sounds excellent, but the odds multiply. A chip works only if it gets through every step, so its chance is 0.99 multiplied by itself 700 times: 0.99⁷⁰⁰ ≈ 0.00088. Fewer than one chip in a thousand would survive, about 9 in every 10,000, and the rest of the wafer would be scrap.

Bảy trăm bước đủ cho thấy một điều đơn giản về , tức tỷ lệ chip làm ra hoạt động được. Giả sử mỗi bước thành công 99%. Nghe thì rất tốt, nhưng xác suất nhân dồn qua từng bước. Một con chip chỉ dùng được khi vượt qua trọn cả 700 bước, nên cơ hội của nó bằng 0,99 nhân với chính nó 700 lần: 0,99⁷⁰⁰ ≈ 0,00088. Chưa đến một con chip trong một nghìn con còn dùng được, khoảng 9 trên 10.000, và phần còn lại của tấm wafer coi như bỏ đi.

Success rate of each stepTỷ lệ thành công của mỗi bước
700700
Yield
0.088%0,088% About 9 in 10,000 chips work.Khoảng 9 trên 10.000 chip hoạt động được.
The arithmeticPhép tính
0.99700 ≈ 0.000880,99700 ≈ 0,00088
On this waferTrên tấm wafer này
0 of 316 chips work0 trên 316 chip hoạt động được

workshoạt động được failedbị hỏng

Each square is one chip. Which chips fail is chosen at random; the model says only how many.Mỗi ô vuông là một con chip. Chip nào hỏng được chọn ngẫu nhiên; mô hình chỉ cho biết có bao nhiêu chip hỏng.

Shown at 700 steps and 99% per step. Turn on JavaScript to change them. After 700 steps, by success rate of each step:Đang hiển thị ở 700 bước, mỗi bước thành công 99%. Bật JavaScript để thay đổi. Sau 700 bước, theo tỷ lệ thành công của mỗi bước:

99%99%
0.088% About 9 in 10,000 chips work.0,088% Khoảng 9 trên 10.000 chip hoạt động được.
99.9%99,9%
49.6% About half of the chips work.49,6% Khoảng một nửa số chip hoạt động được.
99.99%99,99%
93.2% About 93 in 100 chips work.93,2% Khoảng 93 trên 100 chip hoạt động được.
99.999%99,999%
99.3% Only about 7 in 1,000 chips fail.99,3% Chỉ khoảng 7 trên 1.000 chip bị hỏng.
PLATE 7.2HÌNH 7.2Một con chip chỉ hoạt động được khi mọi bước đều thành công, nên tỷ lệ chip hoạt động được bằng tỷ lệ thành công của một bước nhân với chính nó, mỗi bước một lần. Hãy chọn một tỷ lệ rồi thay đổi số bước để thấy số chip hoạt động được giảm nhanh đến mức nào.A chip works only if every step succeeds, so the share of working chips is one step's success rate multiplied by itself once for every step. Pick a rate and change the number of steps to see how quickly the working chips run out.

The model is deliberately simple. It treats every step as independent and every slip as fatal, and it leaves out that real yield also falls as a chip gets larger, one reason for the chiplets of chapter 8. Its lesson is real all the same: a fab can make money only if every one of its steps is far better than 99%. That is why the process engineers of chapter 6 spend so much of their time as doctors for the wafer, tracing a defect back to the step that caused it, finding out why, and curing it before the next wafer goes through.

Mô hình này cố tình đơn giản hóa: nó coi các bước độc lập với nhau, coi mọi sai sót đều là chí mạng, và bỏ qua một điều là chip càng lớn thì yield thực tế càng giảm, một trong những lý do khiến chiplet ở chương 8 ra đời. Dù vậy, bài học của nó là có thật: fab chỉ có lãi khi tỷ lệ thành công của từng bước vượt xa 99%. Vì thế, các kỹ sư quy trình ở chương 6 dành rất nhiều thời gian đóng vai bác sĩ cho wafer. Họ lần theo một lỗi về đúng bước đã gây ra nó, tìm nguyên nhân, rồi chữa dứt điểm trước khi tấm wafer tiếp theo đi qua.