Chapter 10 of 10Chương 10/10 9 min9 phút
Building the peopleĐào tạo nguồn nhân lực
Whichever door of chapter 9 a country opens, someone has to walk through it. This last chapter is about those people: what to study, which foundations last, why a country’s first research clean room should be one that many share, how short of people the world already is, and what to do next.
Dù một nước mở cánh cửa nào ở chương 9, vẫn phải có người bước qua. Chương cuối này nói về những người ấy: nên học ngành gì, nền tảng nào bền lâu, vì sao phòng sạch nghiên cứu đầu tiên của một nước nên là nơi nhiều bên dùng chung, thế giới đang thiếu người đến mức nào, và bước tiếp theo là gì.
In this chapter
Trong chương này
- Which majors the chip industry hires from
- Why curiosity, science and programming are foundations that last
- Why one shared clean room serves better than many small ones
- How short of chip engineers the world already is
- What students should do to prepare, and common questions
- Ngành chip tuyển người từ những ngành học nào
- Vì sao trí tò mò, khoa học và lập trình là những nền tảng bền lâu
- Vì sao nên dùng chung một phòng sạch thay vì xây nhiều phòng nhỏ
- Thế giới đang thiếu kỹ sư chip đến mức nào
- Những việc sinh viên nên làm để chuẩn bị, và những câu hỏi thường gặp
A chip career draws on many majors, not only semiconductors
Ngành chip tuyển người từ nhiều ngành học, không chỉ ngành bán dẫn
A chip career does not require a semiconductor degree. Some engineers in the field studied general electronics before semiconductor programmes existed, took a course or two on semiconductor materials, and learned the rest at work. Nor is the industry only chip design. A fab or a packaging plant runs expensive machines that other companies make, so it needs people who understand mechanics, electronics, software, chemistry and materials, and production management too.
Muốn làm trong ngành chip không nhất thiết phải có bằng về bán dẫn. Có những kỹ sư trong nghề học điện tử nói chung từ khi chưa có chương trình đào tạo bán dẫn riêng, chỉ học thêm một hai môn về vật liệu bán dẫn, rồi học phần còn lại khi đi làm. Ngành chip cũng không chỉ có thiết kế. Một nhà máy sản xuất chip (fab) hay một nhà máy đóng gói vận hành những cỗ máy đắt tiền do hãng khác chế tạo, nên cần người hiểu cơ khí, điện tử, phần mềm, hóa học và vật liệu, và cả quản lý sản xuất.
| Where the work is | What to study |
|---|---|
| Fabs and packaging-and-test plants | Mechanical engineering, electronics, information technology, chemistry and materials, automation, industrial engineering, quality management |
| Chip design and verification | Electronics and computer engineering, for design steps such as synthesis, floor planning and physical design |
| Parts for chipmaking machines | Mechanical, electrical and machining engineering; precision manufacturing |
| Photonics | Physics and optics, with electronics |
| Làm ở đâu | Nên học gì |
|---|---|
| Fab, nhà máy đóng gói và kiểm thử | Cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin, hóa học và vật liệu, tự động hóa, kỹ thuật công nghiệp, quản lý chất lượng |
| Thiết kế chip và kiểm định (verification) | Điện tử và kỹ thuật máy tính, cho các bước thiết kế như tổng hợp logic (synthesis), floor planning và physical design |
| Linh kiện cho máy làm chip | Kỹ thuật cơ khí, điện và gia công; sản xuất chính xác |
| Photonics | Vật lý và quang học, kèm điện tử |
People already at work can move into chips too. In 2024 Vietnam’s then Minister of Information and Communications put the country’s engineers in electronics, telecommunications, IT and digital technology at about 700,000, and wrote that many of them could be retrained for the chip industry.10.1
Người đã đi làm cũng có thể chuyển sang ngành chip. Năm 2024, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông khi đó đưa ra con số khoảng 700.000 kỹ sư điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin và công nghệ số trên cả nước. Theo ông, nhiều người trong đó có thể được đào tạo lại để làm trong ngành chip.10.1
Curiosity, science and programming are foundations that last
Trí tò mò, khoa học và lập trình là nền tảng bền lâu
Two things last longer than any course. The first is curiosity: wanting to understand how a thing works, whatever it is. With the internet and AI, almost anything can be learned by someone determined to get to the bottom of it. The second is a solid base in the natural sciences, physics above all, and in programming, both the skill and the way of thinking. Those serve in every industry.
Có hai thứ bền lâu hơn bất cứ môn học nào. Thứ nhất là trí tò mò: gặp bất cứ điều gì cũng muốn hiểu bằng được nó vận hành ra sao. Với internet và AI, gần như kiến thức nào cũng học được, miễn là người học quyết tâm tìm hiểu đến tận cùng. Thứ hai là nền tảng vững về khoa học tự nhiên, trước hết là vật lý, và về lập trình, cả kỹ năng lẫn tư duy. Những nền tảng ấy dùng được ở mọi ngành.
Much of an engineer’s real training comes after graduation. The most important skill is teaching yourself: asking when you are stuck, looking things up, reading what others have already found. Short videos of two or three minutes now explain many ideas visually and are a good way in; for depth, the next step is the research papers in IEEE’s journals. An engineer’s job is to solve problems, and many problems in chip technology have no ready-made answer yet.
Phần lớn những gì một kỹ sư thực sự cần biết, họ học sau khi ra trường, trong lúc đi làm. Kỹ năng quan trọng nhất là tự học: gặp chỗ chưa hiểu thì hỏi, tự tra cứu, đọc những gì người khác đã tìm ra. Những video ngắn hai ba phút bây giờ giải thích nhiều khái niệm rất trực quan, là cách tốt để bắt đầu; muốn hiểu sâu thì bước tiếp theo là các bài báo khoa học trên tạp chí của IEEE. Việc của kỹ sư là giải quyết vấn đề, và trong công nghệ chip còn rất nhiều vấn đề chưa có lời giải sẵn.
Researchers propose one shared clean room instead of many small ones
Đề xuất dùng chung một phòng sạch thay vì xây nhiều phòng nhỏ
A university can teach chip design on computers, but students who want to make chips need a clean room. People who have worked in research clean rooms suggest an answer: one that many share, where students, professors and companies make prototype chips of any kind, electronic or photonic. A well-known example is the Nanofab at the University of California, Santa Barbara (UCSB).
Trường đại học có thể dạy thiết kế chip bằng máy tính, nhưng sinh viên muốn tự tay làm chip thì cần phòng sạch. Những người từng làm việc trong các phòng sạch nghiên cứu đề xuất một lời giải: một phòng sạch dùng chung, nơi sinh viên, giảng viên và doanh nghiệp cùng dùng để chế tạo mẫu thử cho mọi loại chip, điện tử hay quang tử. Một ví dụ nổi tiếng là Nanofab của University of California, Santa Barbara (UCSB).
| UCSB Nanofab | What it has |
|---|---|
| Tools | More than US$60 million worth (2025)10.2 |
| Wafers | 100 mm10.3 |
| Optical lithography | An ASML stepper using 248 nm light, which prints isolated lines below 150 nm10.4 |
| Electron-beam lithography | Features down to about 8 nm, written one at a time, slowly10.5 |
| Hours | Open around the clock10.6 |
| Users | More than 500 a year, about half from industry10.2 |
| Companies served, 2006 to 2025 | 309, of them 240 small businesses10.7 |
| UCSB Nanofab | Có gì |
|---|---|
| Máy móc | Trị giá hơn 60 triệu USD (2025)10.2 |
| Wafer | 100 mm10.3 |
| Quang khắc bằng ánh sáng | Máy stepper dùng ánh sáng 248 nm của ASML, in được đường nét đơn lẻ nhỏ hơn 150 nm10.4 |
| Electron-beam lithography (quang khắc bằng chùm điện tử) | Chi tiết nhỏ tới khoảng 8 nm, vẽ từng chi tiết một, rất chậm10.5 |
| Giờ mở cửa | Suốt ngày đêm10.6 |
| Người dùng | Hơn 500 người mỗi năm, khoảng một nửa từ doanh nghiệp10.2 |
| Số công ty từng sử dụng (từ 2006 đến 2025) | 309, trong đó 240 là doanh nghiệp nhỏ10.7 |
A lab like this exists to make prototypes: a trial chip is made here to see whether an idea works, and making it by the thousand happens later, in a fab.
Một phòng sạch như thế chỉ để làm mẫu thử: người ta chế tạo con chip thử nghiệm ở đây để xem ý tưởng có chạy được không, còn sản xuất hàng nghìn con là việc về sau, ở một fab.
Why one lab shared by many, rather than one for each university? A clean room is expensive to build and expensive to run. It needs experts and highly skilled staff, and it costs money every day whether or not its tools are busy. If every university builds its own, the money is spread thin, there are not enough experts to run each one well, and the tools sit idle. The way to avoid all three is to fund one clean room jointly: universities use it for research, and start-ups and companies large and small rent hours there for their research and development.
Vì sao nên có một phòng sạch cho nhiều bên dùng chung, thay vì mỗi trường một phòng? Phòng sạch tốn kém khi xây, và tốn kém cả khi vận hành. Nó cần chuyên gia và nhân lực trình độ cao, và ngày nào cũng tốn tiền, dù máy móc có chạy hay không. Nếu trường nào cũng tự xây một phòng, vốn đầu tư bị dàn trải, không đủ chuyên gia để vận hành tốt từng nơi, và máy móc bỏ không. Cách tránh cả ba là góp vốn xây chung một phòng sạch: các trường dùng cho nghiên cứu, còn start-up và doanh nghiệp lớn nhỏ thuê giờ cho việc nghiên cứu và phát triển của mình.
Users pay for what they use, and a clean room works best running around the clock: the more people book it, the closer its tools come to full use. At UCSB about half of the more than 500 users a year come from industry, and 309 companies used the Nanofab between 2006 and 2025, 240 of them small businesses.10.2, 10.7 For a start-up with no clean room of its own, renting hours there is a way to make a first prototype, and dozens of local start-ups founded by UCSB faculty and graduates have done so.10.3
Người dùng trả tiền theo mức sử dụng, và phòng sạch hoạt động hiệu quả nhất khi chạy suốt ngày đêm: càng nhiều người đặt giờ, máy móc càng gần đạt công suất tối đa. Ở UCSB, khoảng một nửa trong số hơn 500 người dùng mỗi năm đến từ doanh nghiệp, và từ năm 2006 đến 2025 đã có 309 công ty dùng Nanofab, 240 trong số đó là doanh nghiệp nhỏ.10.2, 10.7 Với một start-up chưa có phòng sạch riêng, thuê giờ ở đó là một cách để làm mẫu thử đầu tiên, và hàng chục start-up địa phương do giảng viên và cựu sinh viên UCSB sáng lập đã làm như vậy.10.3
Chip design has its own way of sharing. A trial chip needs a set of masks and a run through a fab, and both are expensive. In a multi-project wafer (MPW) run, designs from several customers share one mask set and one run, so the customers split the cost.10.8 The design software is costly too: EDA tools can cost tens of thousands of dollars per licence a year,10.9 so licences, like clean rooms, cost each user less when they are shared.
Thiết kế chip cũng có cách dùng chung riêng. Muốn làm thử một con chip, cần một bộ mask (mặt nạ quang khắc) và một lượt chạy qua fab; cả hai khoản đều rất đắt. Trong một lượt chạy multi-project wafer (MPW, wafer đa dự án), thiết kế của nhiều khách hàng được xếp chung trên một bộ mask và cùng một lượt chạy, nên các khách hàng chia nhau chi phí.10.8 Phần mềm thiết kế cũng tốn kém: công cụ EDA có thể tốn hàng chục nghìn USD cho mỗi giấy phép mỗi năm,10.9 nên cũng như phòng sạch, giấy phép phần mềm khi dùng chung thì mỗi bên tốn ít hơn.
In Vietnam, a national MPW coordination centre under the Ministry of Science and Technology opened on 26 June 2026.10.10, 10.11 It plans to give universities, research institutes and firms EDA tools and access to prototype runs, with pilot and prototyping costs covered in full in 2026 and 2027.10.11, 10.10
Ở Việt Nam, một trung tâm điều phối MPW quốc gia trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã ra mắt ngày 26/6/2026.10.10, 10.11 Theo kế hoạch, trung tâm sẽ cung cấp công cụ EDA và giúp các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp tiếp cận các lượt chạy mẫu thử; chi phí thử nghiệm và chế tạo mẫu dự kiến được hỗ trợ toàn bộ trong hai năm 2026 và 2027.10.11, 10.10
The world is short of chip workers
Thế giới đang thiếu người làm chip
Chipmakers are short of people. The US chip industry expects to be about 67,000 technicians, engineers and computer scientists short by 2030.10.12 When TSMC built its fabs in Arizona, it had to send experienced technicians over from Taiwan to train local workers.10.13 Japan, South Korea and Taiwan are now “super-aged” societies, with more than a fifth of their people aged 65 or over.10.14, 10.15, 10.16 Japanese chipmakers report posts they cannot fill, and Taiwan’s government and chipmakers are paying for training at universities.10.17
Các hãng chip đang thiếu người. Ngành chip Mỹ dự báo đến năm 2030 sẽ thiếu khoảng 67.000 kỹ thuật viên, kỹ sư và chuyên gia khoa học máy tính.10.12 Khi xây các fab ở Arizona, TSMC đã phải đưa kỹ thuật viên từ Đài Loan sang đào tạo lao động tại chỗ.10.13 Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan nay đều đã thành những xã hội “siêu già”: hơn một phần năm dân số từ 65 tuổi trở lên.10.14, 10.15, 10.16 Các hãng chip Nhật cho biết có những vị trí họ không tuyển được người, còn chính phủ và các hãng chip Đài Loan đang bỏ tiền hỗ trợ đào tạo ở các trường đại học.10.17
A 2025 World Bank report looks at Vietnam’s side of the shortage in two ways. In 2023 about 4% of the people working in Vietnam’s computer programming services, which include its chip-design firms, held a master’s degree or a PhD. At chip-design firms in leading chip hubs, about a third of entry-level job postings ask for one. From 2023 data at 17 leading science and technology universities, the report estimates that about 24,000 students a year graduate from them in majors relevant to the chip industry, and that only about 3,000 graduates a year go into chip jobs.10.9
Một báo cáo năm 2025 của Ngân hàng Thế giới xem xét tình trạng thiếu người ở Việt Nam qua hai góc độ. Năm 2023, trong ngành dịch vụ lập trình máy tính của Việt Nam (tính cả các công ty thiết kế chip), khoảng 4% người lao động có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ. Còn ở các công ty thiết kế chip tại những thị trường chip hàng đầu, khoảng một phần ba tin tuyển dụng cho người mới vào nghề đòi hỏi bằng cấp này. Dựa trên số liệu năm 2023 của 17 trường đại học khoa học và công nghệ hàng đầu, báo cáo ước tính mỗi năm các trường này có khoảng 24.000 sinh viên tốt nghiệp những ngành liên quan đến chip, nhưng chỉ khoảng 3.000 người vào làm trong ngành chip.10.9
Vietnam’s national programme for the chip industry’s workforce, approved in September 2024, sets out to train at least 50,000 people with a university degree or higher for the industry by 2030: at least 42,000 engineers and bachelor’s graduates, 7,500 master’s students and 500 doctoral students.10.18
Chương trình phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn, được phê duyệt tháng 9/2024, đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo ít nhất 50.000 người có trình độ từ đại học trở lên cho ngành. Trong đó có ít nhất 42.000 kỹ sư và cử nhân, 7.500 học viên thạc sĩ và 500 nghiên cứu sinh.10.18
What students should do to prepare for future opportunities
Những việc sinh viên nên làm để chuẩn bị cho các cơ hội trong tương lai
What to do next depends on the door you choose, but some steps suit every student.
Bước tiếp theo tùy vào cánh cửa bạn chọn, nhưng có những việc sinh viên nào cũng nên làm.
- Pick a door from chapter 9, and the major that leads to it (the first table in this chapter).
- Build the foundations early: physics, mathematics and programming.
- Teach yourself: short videos to start, IEEE papers for depth.
- Take every chance at hands-on work: lab courses, projects, internships, and time in a clean room if a shared one is within reach.
- Work on your English and on how you work in a team.
- Aim to be among the best in your class.
- Stay curious, and be patient: the industry needs both.
- Chọn một cánh cửa ở chương 9, và ngành học dẫn tới cánh cửa ấy (bảng đầu tiên của chương này).
- Xây nền tảng từ sớm: vật lý, toán và lập trình.
- Tự học: bắt đầu bằng video ngắn, muốn sâu thì đọc bài báo trên IEEE.
- Tận dụng mọi cơ hội làm thực tế: môn thí nghiệm, đồ án, thực tập, và giờ làm việc trong phòng sạch nếu có một phòng dùng chung trong tầm với.
- Rèn tiếng Anh và cách làm việc nhóm.
- Đặt mục tiêu nằm trong nhóm giỏi nhất lớp.
- Giữ trí tò mò, và kiên nhẫn: ngành này cần cả hai.
Who can help a university with equipment and curricula for chip training?Ai có thể giúp các trường đại học về thiết bị và chương trình đào tạo ngành chip?
Experienced engineers are one answer. Some design engineers with long careers at large companies, a few of them retired, want to teach and would rather work with a university than build a course alone. In that split the university teaches the foundations, and they bring practical courses on designing a chip and an intensive internship of about half a year. A university can also ask the EDA software makers about licences for teaching. For making chips, the equipment question has the answer given above: share one clean room.
Một lời giải là các kỹ sư giàu kinh nghiệm. Có những kỹ sư thiết kế từng làm nhiều năm ở các tập đoàn lớn, có người đã nghỉ hưu, muốn đi dạy và thích hợp tác với trường đại học hơn là tự mở một khóa học riêng. Khi đó, nhà trường dạy nền tảng, còn họ mang đến những môn thực hành thiết kế chip và một đợt thực tập chuyên sâu khoảng nửa năm. Nhà trường cũng có thể hỏi các hãng phần mềm EDA về giấy phép dùng cho giảng dạy. Còn với việc chế tạo chip, câu trả lời về thiết bị nằm ở phần trên: dùng chung một phòng sạch.
A university is opening a chip-design programme and wants to add photonics. What are the prospects, and what does the training need?Một trường đại học đang mở chương trình thiết kế chip và muốn đào tạo thêm về photonics. Triển vọng ra sao, và việc đào tạo cần những gì?
The prospects are good where a programme matches what the industry hires for. One Vietnamese university launched a chip-design programme in July 2025, with one track in digital IC design and verification, the kind of work chapters 3 and 9 found in rising demand, and another in IC validation, which tests finished chips in real systems. Design can be taught on computers with EDA software, on a base of electronics. Photonics, like any chipmaking, needs a clean room for practice, and there one shared clean room can serve many universities at once.
Triển vọng sẽ tốt nếu chương trình khớp với những gì ngành đang tuyển. Tháng 7/2025, một trường đại học Việt Nam đã ra mắt chương trình thiết kế vi mạch với hai chuyên ngành: một về thiết kế và verification vi mạch số, đúng mảng việc mà chương 3 và chương 9 cho thấy đang ngày càng cần người, và một về IC validation, tức kiểm tra những con chip đã sản xuất trong hệ thống thật. Thiết kế có thể dạy trên máy tính với phần mềm EDA, dựa trên nền tảng điện tử. Còn photonics, cũng như mọi việc chế tạo chip, cần phòng sạch để thực hành, và khi đó một phòng sạch dùng chung có thể phục vụ nhiều trường cùng lúc.
Can an automation student get into the chip industry?Sinh viên ngành tự động hóa có vào được ngành chip không?
Yes. Fabs, packaging plants and test plants are full of automated machines, so they need people who understand mechanics, electrics and automation to run and maintain them. For a chip factory, that knowledge is essential.
Được. Fab, nhà máy đóng gói và nhà máy kiểm thử đầy những cỗ máy tự động, nên cần người hiểu cơ khí, điện và tự động hóa để vận hành và bảo trì chúng. Với một nhà máy chip, đó là kiến thức không thể thiếu.
Will AI and automation cut the need for chip workers?AI và tự động hóa có làm giảm nhu cầu nhân lực của ngành chip không?
Not so far, as the shortage in the section above shows. AI is used as a tool. For researchers it speeds up work such as writing code, but in the view of people who use it every day, it has not yet come up with the ideas and decisions that would replace an expert.
Cho đến nay thì chưa, như tình trạng thiếu người ở phần trên cho thấy. AI đang được dùng như một công cụ. Với người làm nghiên cứu, nó giúp làm nhanh hơn những việc như viết code; nhưng theo những người dùng nó hằng ngày, AI chưa đưa ra được những ý tưởng và quyết định có thể thay thế một chuyên gia.
What does a shared clean room cost, what node does it reach, and what wafer size does it use?Một phòng sạch dùng chung tốn bao nhiêu, làm được đến node nào, và dùng wafer cỡ nào?
Take UCSB’s Nanofab: what its tools cost, how fine they print and its wafer size are in the table above, and no building cost is published. It has no single node, since its tools print features of different sizes, and it is built for prototypes; volume production goes to a fab.
Lấy Nanofab của UCSB làm ví dụ: giá trị máy móc, độ mảnh chúng in được và cỡ wafer đều có trong bảng ở trên, còn chi phí xây dựng thì chưa được công bố. Nơi này không gắn với một tiến trình bán dẫn (technology node) cố định, vì các máy in được chi tiết ở những cỡ khác nhau, và nó được xây để làm mẫu thử; sản xuất hàng loạt là việc của fab.
Should a new graduate be afraid of unemployment?Sinh viên mới ra trường có nên lo thất nghiệp không?
No field can guarantee a job, this one included. But chipmaking is a global industry, and several countries, from the United States to Japan, are short of chip engineers (see the section above). Prepare well, with the steps above, and if the first job is not at home, be ready to take it abroad.
Không ngành nào bảo đảm chắc chắn có việc làm, kể cả ngành này. Nhưng sản xuất chip là ngành toàn cầu, và một số nước, từ Mỹ đến Nhật Bản, đang thiếu kỹ sư chip (xem phần trên). Hãy chuẩn bị kỹ theo các bước ở trên, và nếu công việc đầu tiên không ở trong nước, hãy sẵn sàng đi làm ở nước ngoài.