Chapter 6 of 10Chương 6/10 5 min5 phút
The cables under the oceanNhững tuyến cáp dưới đáy đại dương
On the seabed between the continents lie the cables that carry almost everything the internet sends from one continent to another. Each holds from a few to a few dozen hair-thin fibers wrapped in copper, steel and plastic. Almost nobody sees them, and almost everybody uses them every day.
Nằm dưới đáy biển giữa các châu lục là những tuyến cáp truyền tải gần như mọi dữ liệu Internet đi từ châu lục này sang châu lục khác. Mỗi tuyến chứa từ vài sợi đến vài chục sợi quang mảnh như tóc, bọc trong đồng, thép và nhựa. Gần như không ai nhìn thấy chúng, nhưng gần như ai cũng dùng đến chúng mỗi ngày.
In this chapter
Trong chương này
- What share of intercontinental data travels along the seabed
- What a subsea cable is made of, from the glass fibers outward
- Who pays for these cables, and why they cost what they do
- Why a lab record for one fiber is not the capacity of a cable
- What satellites can and cannot do in their place
- Bao nhiêu phần trăm dữ liệu liên lục địa đi dưới đáy biển
- Một tuyến cáp quang biển gồm những gì, từ các sợi thủy tinh ở giữa ra đến lớp vỏ ngoài
- Ai bỏ tiền xây các tuyến cáp này, và vì sao chúng đắt như vậy
- Vì sao kỷ lục của một sợi quang trong phòng thí nghiệm không phải là dung lượng của một tuyến cáp
- Vệ tinh thay được cáp ở đâu, và không thay được ở đâu
How data crosses the oceans
Dữ liệu vượt đại dương bằng cách nào
When a page loads from a server in the United States or a call connects to Europe, the data leaves the country somewhere along the coast, on a subsea cable. Before reading on, guess how much of it goes that way.
Khi một trang web tải về từ máy chủ ở Mỹ hay một cuộc gọi nối sang châu Âu, dữ liệu rời đất liền tại một điểm nào đó dọc bờ biển, theo một tuyến cáp quang biển. Trước khi đọc tiếp, hãy thử đoán xem bao nhiêu phần trăm dữ liệu đi theo đường ấy.
Quick questionThử đoán xem
What share of intercontinental internet traffic travels by subsea cable?Cáp quang biển mang bao nhiêu phần trăm lưu lượng Internet liên lục địa?
Show the answerXem đáp án
Almost all of it. The figure usually quoted is over 99% of intercontinental internet traffic. TeleGeography, which maps the world’s cables, confirms it, while noting that nobody can work it out exactly without data on satellite traffic. The one hard number points the same way: in 2013 data, satellites held just 0.37% of the United States’ international capacity.6.1
Gần như toàn bộ. Con số hay được nhắc đến là hơn 99% lưu lượng Internet liên lục địa. TeleGeography, tổ chức chuyên lập bản đồ cáp biển thế giới, xác nhận con số này, dù lưu ý rằng không ai tính chính xác được khi chưa có số liệu về lưu lượng vệ tinh. Số liệu đo được cụ thể duy nhất cũng cho thấy điều tương tự: theo số liệu năm 2013, vệ tinh chỉ chiếm 0,37% dung lượng kết nối quốc tế của Mỹ.6.1
The routes are thickest where traffic is heaviest: across the North Atlantic, through the Mediterranean and the Red Sea, around Southeast and East Asia, and over the Pacific to the west coast of the United States. Each line on the map below ends at a landing station on the shore, where the cable meets the land network.
Các tuyến cáp dày đặc nhất ở nơi lưu lượng lớn nhất: băng qua Bắc Đại Tây Dương, xuyên Địa Trung Hải và Biển Đỏ, quanh Đông Nam Á và Đông Á, và vượt Thái Bình Dương tới bờ tây nước Mỹ. Mỗi đường trên tấm bản đồ dưới đây kết thúc ở một trạm cập bờ, nơi tuyến cáp nối vào mạng trên đất liền.
What is inside a subsea cable
Bên trong một tuyến cáp quang biển có gì
At the heart of a subsea cable are the same glass fibers as in chapter 5, in pairs, one fiber for each direction. Everything around them is power and protection. A copper layer carries electricity along the cable to feed the amplifiers, which sit in sealed repeaters spaced along the route. Polyethylene and steel guard the fibers, with heavier steel armor added where rocks, fishing gear and anchors are a risk. Near the shore, where ships work, the cable is also buried in the seabed for extra safety.6.2
Ở chính giữa một tuyến cáp quang biển là những sợi thủy tinh giống như ở chương 5, đi theo từng cặp, mỗi sợi quang cho một chiều. Mọi thứ bao quanh đều để cấp điện và bảo vệ. Một lớp đồng dẫn điện dọc tuyến cáp để nuôi các bộ khuếch đại EDFA (erbium-doped fiber amplifier), đặt trong những trạm lặp kín rải theo đường cáp. Lớp polyethylene và thép che chắn sợi quang, và ở những chỗ dễ gặp đá ngầm, ngư cụ hay mỏ neo tàu, cáp được bọc thêm một lớp thép dày. Ở vùng gần bờ, nơi tàu thuyền qua lại, cáp còn được chôn xuống đáy biển để an toàn hơn.6.2
The price decides who can build a cable
Chi phí quyết định ai đủ sức xây một tuyến cáp
A cable across an ocean is made in a factory, loaded onto a specialized ship, paid out along a surveyed route and then maintained for decades. As a rule of thumb, one cable across the Pacific costs around US$300 million.6.3, 6.4 A system that links several continents, like the one in the video above, runs into billions.6.2
Một tuyến cáp vượt đại dương được sản xuất trong nhà máy, xếp lên một con tàu chuyên dụng, thả dần xuống theo lộ trình đã khảo sát, rồi còn phải bảo trì suốt hàng chục năm. Tính phỏng chừng, một tuyến cáp vượt Thái Bình Dương tốn khoảng 300 triệu USD.6.3, 6.4 Còn một hệ thống nối nhiều châu lục, như trong video phía trên, có giá tới hàng tỷ USD.6.2
That price decides who builds them. Only the largest cloud companies, such as Google, Meta and Amazon, can afford cables of their own, and even they often club together with other firms and with the big telecom operators, sharing the cost and dividing the fiber pairs. Unity, which opened in 2010, and FASTER, announced in 2014, were both built by such groups, and each cost close to that same US$300 million.6.3, 6.4
Cái giá ấy quyết định ai là người xây. Chỉ những công ty điện toán đám mây lớn nhất như Google, Meta hay Amazon mới đủ sức có tuyến cáp riêng. Ngay cả họ cũng thường bắt tay với các công ty khác và các nhà mạng viễn thông lớn, chia nhau chi phí và chia nhau các cặp sợi quang. Tuyến Unity, đi vào hoạt động năm 2010, và tuyến FASTER, công bố năm 2014, đều do những nhóm như thế cùng xây, và mỗi tuyến tốn xấp xỉ con số 300 triệu USD nói trên.6.3, 6.4
A lab record is not the capacity of a cable
Kỷ lục phòng thí nghiệm không phải là dung lượng tuyến cáp
How much can one fiber carry? Laboratories keep pushing the answer up, and the record is a useful yardstick, as long as it is read for what it is.
Một sợi quang mang được bao nhiêu dữ liệu? Các phòng thí nghiệm liên tục nâng kỷ lục lên cao hơn, và con số kỷ lục là một thước đo hữu ích, miễn là hiểu đúng nó đo cái gì.
Quick questionThử đoán xem
In 2024, what was the record data rate carried by a single optical fiber?Năm 2024, kỷ lục tốc độ dữ liệu truyền trên một sợi quang là bao nhiêu?
Show the answerXem đáp án
About 400 Tbit/s. In 2024 NICT, Japan’s national information and communications institute, sent 402 Tb/s through 50 km of one standard fiber in the lab, on 1,505 wavelength channels spread across the whole low-loss band.6.5 That record was set on one fiber, in a laboratory, and it has kept climbing since: 430 Tb/s in 2025,6.6 and in June 2026, 450 Tb/s over 39 km of fiber already in the ground in London.6.7
Khoảng 400 Tbit/s. Năm 2024, NICT, viện nghiên cứu quốc gia về công nghệ thông tin và viễn thông của Nhật Bản, đã truyền 402 Tb/s qua một sợi quang tiêu chuẩn dài 50 cây số trong phòng thí nghiệm, trên 1.505 kênh bước sóng trải khắp dải suy hao thấp.6.5 Kỷ lục ấy đạt được trên một sợi quang, trong phòng thí nghiệm, và từ đó đến nay vẫn tiếp tục tăng: 430 Tb/s vào năm 2025,6.6 và tháng 6/2026 là 450 Tb/s qua 39 cây số sợi quang đã nằm sẵn dưới lòng đất London.6.7
A working cable is a different object. It carries many fiber pairs, and each pair runs at a rate that holds up over hundreds or thousands of kilometers, year after year, rather than the most a lab can reach over tens of kilometers. Unitirreno, in the Mediterranean, was launched in October 2025 as the first repeatered cable with 24 fiber pairs: each pair carries over 26 Tb/s, more than 624 Tb/s in all.6.8 So a whole cable can carry more than the record for one standard fiber, because it has many fibers, while each of its fibers carries far less.
Một tuyến cáp đang vận hành là chuyện khác hẳn. Nó mang nhiều cặp sợi quang, và mỗi cặp chạy ở tốc độ giữ vững được qua hàng trăm, hàng nghìn cây số, năm này qua năm khác, chứ không phải mức cao nhất mà phòng thí nghiệm đạt được trên vài chục cây số. Tuyến Unitirreno ở Địa Trung Hải, khai trương tháng 10/2025, là tuyến cáp có trạm lặp đầu tiên mang tới 24 cặp sợi quang. Mỗi cặp truyền được hơn 26 Tb/s, cả tuyến hơn 624 Tb/s.6.8 Như vậy, cả tuyến cáp có thể mang nhiều hơn kỷ lục của một sợi quang tiêu chuẩn, vì nó có nhiều sợi, trong khi mỗi sợi của nó mang ít hơn kỷ lục rất nhiều.
What do such speeds mean in films? A full-HD film is about 3 to 4 gigabytes, and one byte is 8 bits, so a link’s speed in bits has to be divided by eight before it is counted in films.
Những tốc độ ấy tương đương bao nhiêu bộ phim? Một bộ phim full HD nặng khoảng 3 đến 4 gigabyte, mà mỗi byte gồm 8 bit, nên tốc độ tính bằng bit của một đường truyền phải chia cho tám rồi mới quy ra số phim.
| Link | Gigabytes per second | Full-HD films per second |
|---|---|---|
| 100 Gb/s | 12.5 | 3 to 4 |
| 1 Tb/s | 125 | 30 to 40 |
| One fiber pair in Unitirreno, 26 Tb/s | 3,250 | about 800 to 1,100 |
| The 2024 record for one standard fiber, 402 Tb/s | about 50,000 | about 12,000 to 16,000 |
| Đường truyền | Gigabyte mỗi giây | Số phim full HD mỗi giây |
|---|---|---|
| 100 Gb/s | 12,5 | 3 đến 4 |
| 1 Tb/s | 125 | 30 đến 40 |
| Một cặp sợi quang của Unitirreno, 26 Tb/s | 3.250 | khoảng 800 đến 1.100 |
| Kỷ lục năm 2024 của một sợi tiêu chuẩn, 402 Tb/s | khoảng 50.000 | khoảng 12.000 đến 16.000 |
What satellites can and can't replace
Vệ tinh thay được gì và không thay được gì
Satellite internet such as Starlink is sometimes offered as an alternative to cables, but the numbers are far apart. A single Starlink user in the United States had a median download speed of about 105 Mb/s in early 2025.6.9 One fiber pair in Unitirreno carries some 250,000 times one such user’s speed, and the lab record for a single fiber is millions of times more.
Internet vệ tinh như Starlink đôi khi được xem như phương án thay thế cáp, nhưng các con số cách nhau rất xa. Đầu năm 2025, tốc độ tải xuống trung vị của một người dùng Starlink tại Mỹ vào khoảng 105 Mb/s.6.9 Một cặp sợi quang của Unitirreno mang gấp chừng 250.000 lần tốc độ của một người dùng như thế, còn kỷ lục của một sợi quang trong phòng thí nghiệm thì gấp hàng triệu lần.
So could satellites like Starlink replace optical fiber?Vậy vệ tinh như Starlink có thay được cáp quang không?
No. The two complement each other, each for its own job. A satellite link carries far less and has to send every signal up to orbit and back, which adds delay, but it needs no cable, so it reaches places a fiber cannot: a remote village, a ship at sea, an aircraft in flight. Fiber carries the bulk of the world’s data between cities and continents.
Không. Hai thứ bổ trợ cho nhau, mỗi thứ một việc. Đường truyền vệ tinh mang ít dữ liệu hơn nhiều và phải gửi mọi tín hiệu lên quỹ đạo rồi mới xuống nên độ trễ tăng thêm, nhưng nó không cần dây cáp, nên tới được những nơi sợi quang không tới được: vùng sâu vùng xa, một con tàu ngoài khơi, một chuyến bay đang ở trên không. Còn khối dữ liệu khổng lồ đi lại giữa các thành phố và các châu lục vẫn chạy trên cáp quang.
Building ocean crossings is a job for a few very large companies. Running what lands at home is not. The cables that come ashore, and the national backbone that carries their traffic inland, are infrastructure as basic as ports and power lines, and they bear directly on a country’s security. Operating, maintaining and protecting them takes engineers who understand fiber systems in depth, and a country is better placed when those engineers are its own.
Xây những tuyến cáp vượt đại dương là việc của một số ít công ty rất lớn. Vận hành những gì cập bờ trong nước thì khác. Các tuyến cáp lên bờ, cùng mạng trục quốc gia đưa lưu lượng của chúng vào sâu trong đất liền, là hạ tầng cơ bản chẳng kém cảng biển hay lưới điện, và gắn trực tiếp với an ninh quốc gia. Vận hành, bảo trì và bảo vệ chúng cần những kỹ sư am hiểu sâu hệ thống cáp quang, và một đất nước sẽ ở vị thế tốt hơn khi những kỹ sư ấy là người của mình.