Chapter 9 of 10Chương 9/10 10 min10 phút
Why Vietnam has few chip companies of its ownVì sao Việt Nam còn ít công ty chip của riêng mình
Vietnam has been designing chips for about twenty years. Yet most of the engineers who do the work are employed by foreign companies, on chips that are owned and sold elsewhere, and Vietnamese companies with chips of their own are still few. This chapter gives the numbers behind that picture, the obstacles a Vietnamese chip start-up tends to meet, and the ways universities and companies are working together to change it.
Việt Nam đã làm thiết kế chip được khoảng hai mươi năm. Thế nhưng phần lớn kỹ sư trong nghề đang làm cho các công ty nước ngoài, thiết kế những con chip mà công ty ở nơi khác sở hữu và đem bán. Công ty Việt có chip mang tên mình thì vẫn rất ít. Chương này đưa ra những con số cụ thể và các trở ngại mà một công ty khởi nghiệp làm chip ở Việt Nam thường gặp. Sau đó là những cách trường đại học và doanh nghiệp đang bắt tay nhau để thay đổi thực trạng ấy.
In this chapter
Trong chương này
- When chip design began in Vietnam, and who does it today
- What the numbers say about design firms, engineers and policy
- What stands in the way of a Vietnamese company that wants a chip of its own
- Why a chip company takes years to pay off
- How universities and companies can work together
- Thiết kế chip bắt đầu ở Việt Nam từ bao giờ, và ai đang làm công việc ấy
- Các con số nói gì về công ty thiết kế, kỹ sư và chính sách
- Điều gì cản đường một công ty Việt muốn có con chip của riêng mình
- Vì sao một công ty chip phải mất nhiều năm mới sinh lời
- Trường đại học và doanh nghiệp có thể cùng làm việc với nhau ra sao
Twenty years of design, mostly for others
Hai mươi năm thiết kế chip, chủ yếu là chip của công ty khác
Chip design came to Vietnam in 2004 and 2005. In October 2004 the Japanese chipmaker Renesas (then Renesas Technology, since 2010 Renesas Electronics) opened a design centre in Ho Chi Minh City, which it describes as the first in the country, and in 2005 Vietnam National University, Ho Chi Minh City, set up its own chip-design centre, ICDREC.9.1, 9.2 Other foreign design houses followed, and the table in the next section gives the year some of them came.
Nghề thiết kế chip đến Việt Nam trong hai năm 2004 và 2005. Tháng 10/2004, hãng chip Nhật Bản Renesas (khi ấy là Renesas Technology, từ năm 2010 là Renesas Electronics) mở trung tâm thiết kế ở TP. Hồ Chí Minh, theo hãng là trung tâm đầu tiên trong cả nước. Năm 2005, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh lập trung tâm thiết kế vi mạch ICDREC.9.1, 9.2 Các hãng thiết kế nước ngoài khác lần lượt tới sau đó; bảng ở phần tiếp theo ghi năm một số hãng có mặt.
Most of these firms came as foreign direct investment (FDI): a foreign company sets up a branch in Vietnam and hires Vietnamese engineers. The teams there design parts of chips that the parent company owns, brands and sells, or they sell design services, taking on one or two stages of the design flow of chapter 2, such as verification or layout, for a chip that belongs to a client. That is real chip design, and it has trained thousands of engineers. What Vietnam still has few of are companies that own a chip from the idea to the sale.
Phần lớn các công ty này là doanh nghiệp FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài): một hãng nước ngoài mở chi nhánh ở Việt Nam và tuyển kỹ sư Việt. Đội ngũ ở đây thiết kế từng phần của những con chip mà công ty mẹ sở hữu, gắn thương hiệu và đem bán. Hoặc họ làm dịch vụ thiết kế: nhận một hai khâu trong quy trình thiết kế (design flow) đã nói ở chương 2, chẳng hạn kiểm định (verification) hay layout, cho con chip của khách hàng. Đó là thiết kế chip thật sự, và chính công việc ấy đã đào tạo nên hàng nghìn kỹ sư. Điều Việt Nam còn thiếu là những công ty làm chủ một con chip, từ ý tưởng cho đến lúc bán ra.
Chip design in Vietnam in numbers and dates
Thiết kế chip ở Việt Nam qua các con số và mốc thời gian
The table gathers the main facts about chip design in Vietnam, each with its date.
Bảng dưới đây tập hợp những dữ kiện chính về thiết kế chip ở Việt Nam, mỗi dữ kiện kèm mốc thời gian.
| Chip design in Vietnam | 2004 to 2026 |
|---|---|
| The start | Renesas opened a design centre in Ho Chi Minh City in October 2004; the university centre ICDREC followed in 2005.9.1, 9.2 |
| When some of the foreign design houses came | The power-chip designer Active-Semi International (part of Qorvo since 2019), by 2005; Marvell Technology, 2013; CoAsia Semi Vietnam, 2020; ABOV Semiconductor, 2022.9.3, 9.4, 9.5, 9.6 |
| Chip-design firms (2025) | Some 60: about 50 foreign and a little over ten Vietnamese, among them Viettel, FPT and CMC.9.7, 9.8 |
| Chip-design engineers (2025) | Some 6,000 to 7,000, by official estimates.9.9 |
| Packaging and test firms (2025) | Fourteen foreign, one Vietnamese.9.7 |
| Growth since 2023 | In 2023 Marvell planned to grow its Vietnam team by half within three years; by September 2025 it had passed 500 engineers there, making Vietnam its third-largest research and development (R&D) centre, after the United States and India.9.4 |
| National policy | In September 2023, as Vietnam and the United States upgraded their ties to a Comprehensive Strategic Partnership, their leaders pledged to support Vietnam’s semiconductor industry; in September 2024 the government set 2030 targets of at least 50,000 university-trained semiconductor workers, at least 15,000 of them in design, and at least 100 design firms (Decisions 1017 and 1018).9.10, 9.11 |
| Viettel (as of January 2026) | The military-run industry and telecoms group designs its own telecom chips (in 2023, a digital front-end chip, or DFE, for the radio units of 5G base stations) through Viettel's semiconductor centre (Viettel Semi). In January 2026 it broke ground on Vietnam’s first chip fab, at Hòa Lạc, aiming for trial production by the end of 2027.9.12 |
| The National Innovation Center (NIC) | Runs chip-design training and, since 2025, a semiconductor start-up incubator.9.13 |
| Thiết kế chip ở Việt Nam | Từ 2004 đến 2026 |
|---|---|
| Khởi đầu | Tháng 10/2004, Renesas mở trung tâm thiết kế ở TP. Hồ Chí Minh; năm 2005 có thêm trung tâm ICDREC của Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.9.1, 9.2 |
| Một số hãng thiết kế nước ngoài đến khi nào | Hãng thiết kế chip nguồn Active-Semi International (thuộc Qorvo từ năm 2019), chậm nhất là năm 2005; Marvell Technology, năm 2013; CoAsia Semi Vietnam, năm 2020; ABOV Semiconductor, năm 2022.9.3, 9.4, 9.5, 9.6 |
| Doanh nghiệp thiết kế chip (2025) | Khoảng 60, gồm chừng 50 doanh nghiệp nước ngoài và hơn mười doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có Viettel, FPT và CMC.9.7, 9.8 |
| Kỹ sư thiết kế chip (2025) | Khoảng 6.000 đến 7.000 người, theo ước tính chính thức.9.9 |
| Doanh nghiệp đóng gói và kiểm thử (2025) | Mười bốn doanh nghiệp nước ngoài, một doanh nghiệp Việt Nam.9.7 |
| Tăng trưởng từ sau năm 2023 | Năm 2023, Marvell lên kế hoạch tăng đội ngũ ở Việt Nam thêm một nửa trong ba năm; đến tháng 9/2025, số kỹ sư của hãng ở đây đã vượt 500 người, đưa Việt Nam thành trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) lớn thứ ba của hãng, sau Mỹ và Ấn Độ.9.4 |
| Chính sách quốc gia | Tháng 9/2023, khi Việt Nam và Hoa Kỳ nâng quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, lãnh đạo hai nước cam kết hỗ trợ ngành bán dẫn Việt Nam; tháng 9/2024, Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 50.000 nhân lực bán dẫn trình độ đại học trở lên, trong đó ít nhất 15.000 người làm thiết kế, và ít nhất 100 doanh nghiệp thiết kế (Quyết định 1017 và 1018).9.10, 9.11 |
| Viettel (tính đến tháng 1/2026) | Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội tự thiết kế chip viễn thông (năm 2023 là một chip front-end số, DFE, cho khối vô tuyến của trạm phát sóng 5G) qua Trung tâm Bán dẫn Viettel (Viettel Semi). Tháng 1/2026, tập đoàn khởi công nhà máy sản xuất chip (fab) đầu tiên của Việt Nam tại Hòa Lạc, đặt mục tiêu sản xuất thử vào cuối năm 2027.9.12 |
| Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) | Mở các khóa đào tạo thiết kế chip; từ năm 2025, vận hành thêm một vườn ươm khởi nghiệp bán dẫn.9.13 |
Most of the foreign design houses were already there years before the 2023 and 2024 policy; what changed after 2023 was scale.
Phần lớn các hãng thiết kế nước ngoài đã có mặt từ nhiều năm trước chính sách của các năm 2023 và 2024; điều thay đổi sau năm 2023 là quy mô.
What a Vietnamese chip start-up runs into
Một công ty chip khởi nghiệp ở Việt Nam gặp những trở ngại gì
Designing parts of other companies’ chips, as a branch or a service firm, works well in Vietnam, and a start-up can begin that way too, winning contracts for one or two stages of a larger company’s chip. Owning a chip, designing it, having it made and selling it under the company’s own name, is much harder. The obstacles Vietnamese chip start-ups most often describe are these:
Thiết kế từng phần cho chip của công ty khác, trong vai chi nhánh hay công ty dịch vụ, là việc Việt Nam đã làm tốt. Một công ty khởi nghiệp cũng có thể bắt đầu theo lối ấy, nhận hợp đồng làm một hai khâu cho con chip của một hãng lớn hơn. Làm chủ một con chip, tức tự thiết kế, đặt sản xuất rồi bán nó dưới tên mình, thì khó hơn nhiều. Các công ty chip khởi nghiệp Việt thường kể ra những trở ngại sau:
- Not owning the chain. Design is one stage; making the wafers, packaging and testing are done by other companies, and each charges its fee. The fees add up, and at low volume they fall on few chips, so the chip can cost more than a rival’s from a larger company that buys at better prices or runs more of the chain itself. Lower engineering salaries save money on design, but the manufacturing costs can eat much of that saving.
- Costly tools and building blocks. Electronic design automation (EDA) software licences, each tape-out (sending a finished design to be made) and each piece of licensed IP cost a great deal, all before a single chip is sold.
- Selling on price. Unless a chip does something no one else’s does, it competes with similar chips from established companies, and a higher price usually loses.
- Few engineers with a whole chip’s breadth. Designing a whole chip that can compete takes a great deal of know-how. Many engineers spend years on one narrow, repeated task for a large company. For one engineer that is no dead end (chapter 2), but when most of a country’s engineers stay in such work, few build up the breadth a whole chip needs.
- Slow debug loops. When the first chips fail, they go for an X-ray, a look inside the opened package or a cut with a focused ion beam (FIB), as chapter 8 showed. Each loop is quicker when such a lab is a short trip away; sending the parts farther means waiting longer for every answer.
- Không làm chủ chuỗi sản xuất. Thiết kế chỉ là một khâu; sản xuất wafer, đóng gói và kiểm thử đều do công ty khác làm, và khâu nào cũng thu phí. Cộng lại, khi sản lượng còn thấp, các khoản phí ấy dồn lên ít con chip, nên chip có thể đắt hơn chip của một đối thủ lớn hơn, vốn mua được giá tốt hơn hoặc tự làm được nhiều khâu hơn. Lương kỹ sư thấp hơn giúp tiết kiệm ở khâu thiết kế, nhưng chi phí sản xuất có thể nuốt mất phần lớn khoản tiết kiệm ấy.
- Công cụ và khối dựng sẵn đắt đỏ. Giấy phép EDA (phần mềm thiết kế chip), mỗi lần tape-out (gửi bản thiết kế hoàn chỉnh đi sản xuất) và mỗi IP (khối thiết kế mua bản quyền) đều rất tốn tiền, và phải chi hết trước khi bán được con chip nào.
- Cạnh tranh bằng giá. Trừ khi con chip làm được điều mà chip khác không làm được, nó phải đọ với những con chip tương tự của các hãng đã có tên tuổi, và chip nào đắt hơn thường thua.
- Ít người đủ bề rộng để làm trọn một con chip. Thiết kế trọn một con chip đủ sức cạnh tranh đòi hỏi rất nhiều chất xám. Nhiều kỹ sư làm một phần việc hẹp, lặp đi lặp lại suốt nhiều năm cho một công ty lớn. Với từng người, đó không phải ngõ cụt (chương 2); nhưng khi phần lớn kỹ sư của cả nước chỉ ở những vị trí như vậy, sẽ ít người tích lũy được kiến thức đủ rộng để làm trọn một con chip.
- Vòng gỡ lỗi kéo dài. Khi những con chip đầu tiên hỏng, chúng phải đem đi chụp X-quang, tách phần đóng gói ra để xem die bên trong, hay cắt thử bằng chùm ion hội tụ (focused ion beam, FIB), như chương 8 đã kể. Phòng thí nghiệm như thế càng gần thì mỗi vòng càng nhanh; gửi đi xa hơn nghĩa là lần nào cũng phải chờ kết quả lâu hơn.
Some of these lie outside any one company’s reach. A semiconductor ecosystem is everything around a chip company that it relies on: packaging and test plants (OSATs), test labs, suppliers and customers close by. Much of it is supporting industry, which no start-up can build alone. Other obstacles, such as how deep engineers’ training goes, are ones the country can work on itself.
Một số trở ngại nằm ngoài tầm tay của bất kỳ công ty nào. Hệ sinh thái bán dẫn là tất cả những gì bao quanh một công ty chip mà công ty ấy phải dựa vào: nhà máy đóng gói và kiểm thử (OSAT), phòng thí nghiệm kiểm thử, nhà cung cấp và khách hàng ở gần. Phần lớn trong số đó thuộc về công nghiệp hỗ trợ, và không công ty khởi nghiệp nào tự dựng lên được. Những trở ngại khác, như chiều sâu đào tạo của đội ngũ kỹ sư, thì cả nước có thể tự mình cải thiện.
A chip company takes years to pay off
Một công ty chip phải mất nhiều năm mới sinh lời
Even where the ecosystem is strong, a chip company takes years to pay off. A new chip can take years to go from its first design to its first sale, and all that time a start-up is spending its investors’ money.
Ngay cả ở nơi hệ sinh thái đã mạnh, một công ty chip cũng phải mất nhiều năm mới sinh lời. Từ bản thiết kế đầu tiên đến lần bán hàng đầu tiên, một con chip có thể mất vài năm, và suốt thời gian ấy công ty khởi nghiệp vẫn tiêu tiền của nhà đầu tư.
The power-chip start-up Lion Semiconductor shows how long that can be. It was founded in 2012 on its co-founder Lê Hạnh Phúc’s PhD research at the University of California, Berkeley, into switched-capacitor converters, the power converters built from switches and capacitors alone that chapter 4 compared; he had taken his first degree at Hanoi University of Science and Technology. Its fast-charging chips went on to ship more than 100 million units. In 2021 Cirrus Logic bought the company for US$335 million: about nine years from founding to sale, even for a company with a strong technical base from its first day.9.14
Công ty khởi nghiệp làm chip nguồn Lion Semiconductor cho thấy quãng đường ấy có thể dài đến đâu. Công ty ra đời năm 2012 từ nghiên cứu tiến sĩ của nhà đồng sáng lập Lê Hạnh Phúc tại Đại học California, Berkeley; trước đó, ông đã tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội. Đề tài của ông là bộ chuyển đổi tụ chuyển mạch (switched-capacitor converter), loại mạch nguồn chỉ dùng khóa và tụ điện mà chương 4 đã đem ra so sánh. Chip sạc nhanh của Lion về sau xuất xưởng hơn 100 triệu chiếc. Năm 2021, Cirrus Logic mua lại công ty với giá 335 triệu USD: khoảng chín năm từ lúc thành lập đến lúc bán, dù công ty có nền tảng kỹ thuật vững ngay từ ngày đầu.9.14
An ecosystem grows in steps as well, each lifting the next. The more companies hire, the more students choose chip design; the more engineers graduate each year, the more go on to a master’s degree or a PhD, some of them abroad; and some of those come back to found companies or to teach the next cohort. Every step takes years.
Một hệ sinh thái cũng lớn lên theo từng bậc, bậc trước nâng bậc sau. Càng có nhiều công ty tuyển người thì càng có nhiều sinh viên chọn học thiết kế chip. Mỗi năm càng có nhiều kỹ sư ra trường thì càng có nhiều người học tiếp lên thạc sĩ, tiến sĩ, có người đi học ở nước ngoài. Trong số đó sẽ có người quay về lập công ty hay đứng lớp dạy lứa sau. Bậc nào cũng cần nhiều năm.
When universities and companies work together
Khi trường đại học và doanh nghiệp bắt tay nhau
Universities and companies in Vietnam already work together. The chip-design laboratory at Hanoi University of Science and Technology, for one, lists Qorvo, ABOV, ETA Semiconductor, CoAsia and FPT Semiconductor among its collaborators.9.15 Ways in use, in Vietnam or abroad, include these:
Ở Việt Nam, trường đại học và doanh nghiệp đã cùng làm việc với nhau. Chẳng hạn, phòng thí nghiệm thiết kế vi mạch của Đại học Bách khoa Hà Nội ghi tên Qorvo, ABOV, ETA Semiconductor, CoAsia và FPT Semiconductor trong danh sách đơn vị hợp tác.9.15 Một số cách đang được áp dụng, ở Việt Nam hay ở nước ngoài:
- Companies fund university labs. In many countries a company sets aside part of its R&D budget for university labs that do good work. This suits a company that is already profitable.
- Theses and projects done with companies. A final-year capstone project is a low-cost way for a company to try a real problem, teaches the student more than a classroom exercise, and gives the company an early look at people it may hire.
- Alumni who come back. Graduates now working in industry return to review students’ layouts and point out what an experienced eye sees at once, such as a metal line wandering all over the die.
- Training before hiring. Some companies train new graduates for six months to a year before taking them on, paying a small stipend and sometimes using the university’s own rooms and equipment.
- Doanh nghiệp tài trợ phòng thí nghiệm của trường. Ở nhiều nước, doanh nghiệp dành một phần ngân sách R&D cho các phòng thí nghiệm đại học nghiên cứu giỏi. Cách này hợp với những công ty đã có lãi.
- Đồ án và đề tài làm cùng doanh nghiệp. Đồ án tốt nghiệp là cách ít tốn kém để doanh nghiệp thử giải một bài toán thật. Sinh viên học được nhiều hơn so với làm bài tập trên lớp, còn công ty có dịp làm quen sớm với những người mình có thể tuyển.
- Cựu sinh viên quay về. Những người đã ra trường và đi làm quay lại xem layout giúp sinh viên, chỉ ra những chỗ mà con mắt nhiều kinh nghiệm nhìn là thấy ngay, như một đường metal chạy lòng vòng khắp die.
- Đào tạo trước khi tuyển. Một số công ty đào tạo sinh viên mới tốt nghiệp từ sáu tháng đến một năm trước khi nhận vào làm, trả một khoản học bổng nhỏ, có khi dùng cả phòng học và thiết bị của nhà trường.
The next chapter turns to the student who wants to design chips.
Chương sau dành cho người học muốn trở thành kỹ sư thiết kế chip.
Why does Vietnam still have so few chip companies of its own?Vì sao Việt Nam vẫn còn ít công ty chip của riêng mình?
The reasons usually given come in two kinds. From outside: an ecosystem that is still thin and the cost of a chain the company does not run, the obstacles described above. From inside: too few engineers for the targets the country has set, fewer still with the depth of a PhD, and too few teachers for the many students who now want to learn chip design. The inside ones are where Vietnam can act for itself, one step at a time.
Những lý do thường được nêu ra chia làm hai loại. Loại thứ nhất đến từ bên ngoài: hệ sinh thái còn mỏng và cái giá của một chuỗi sản xuất mà công ty không tự làm, tức những trở ngại đã kể ở trên. Loại thứ hai đến từ bên trong: số kỹ sư còn ít so với mục tiêu đã đặt ra, người có trình độ chuyên sâu tới mức tiến sĩ lại càng ít, và giảng viên không đủ để dạy số sinh viên ngày càng đông muốn học thiết kế chip. Các yếu tố bên trong mới là điều Việt Nam có thể tự mình cải thiện, từng bậc một.
Why don't chip companies give universities design projects?Vì sao các công ty chip không giao dự án thiết kế cho trường đại học?
Often because they cannot yet afford to wait. Of the models above, funding a lab suits a company already in profit. A start-up is spending its investors’ money, which has to bring returns quickly, so a university project that runs two or three years is hard to fund. From the universities’ side, the answer is that many projects need little or no money: lecturers and students will often work with a company for what they learn, and if such a project produces a better circuit, the company can still buy it. Finding the right people to work with matters as much as the funding.
Thường là vì họ chưa đủ sức chờ. Trong các cách làm ở trên, tài trợ phòng thí nghiệm hợp với công ty đã có lãi. Một công ty khởi nghiệp thì đang tiêu tiền của nhà đầu tư, mà đồng tiền ấy phải sớm sinh lời, nên khó bỏ vào một dự án ở trường kéo dài hai, ba năm. Từ phía nhà trường, câu trả lời là nhiều dự án cần rất ít kinh phí, thậm chí không cần: giảng viên và sinh viên thường sẵn lòng làm cùng doanh nghiệp vì những gì học được, và nếu dự án cho ra một mạch tốt hơn thì công ty vẫn có thể mua lại. Tìm đúng người để cùng làm cũng quan trọng không kém chuyện kinh phí.
How can the gap between what university teaches and what companies need be closed?Làm sao thu hẹp khoảng cách giữa những gì trường đại học dạy và những gì doanh nghiệp cần?
Some gap is natural. University research aims at what industry will need years from now, while a company can only sell technology that is proven and ready for production. What narrows the gap is contact with real work, early and often. At some Vietnamese universities, students visit companies from the end of their first year, see the servers, the measurement labs and the production lines, and come back to their courses knowing what those courses are for. In the third year an internship places them in a company, almost full time for a summer or one or two days a week during term. The capstone project can then be done at a company, with an engineer there as a supervisor, and companies help write parts of the courses. A student who has been through all of that has, in effect, already done part of a new hire’s training.
Có một khoảng cách nhất định là chuyện tự nhiên. Nghiên cứu ở trường đại học nhắm tới những gì công nghiệp sẽ cần sau nhiều năm nữa, còn doanh nghiệp chỉ bán được công nghệ đã hoàn thiện, đã được kiểm chứng và dùng được ngay. Khoảng cách hẹp lại khi sinh viên được tiếp xúc với công việc thật từ sớm và thường xuyên. Ở một số trường đại học Việt Nam, sinh viên đi tham quan doanh nghiệp từ cuối năm thứ nhất, tận mắt thấy server, phòng đo, dây chuyền sản xuất, rồi quay về học các môn trên lớp mà hiểu các môn ấy để làm gì. Năm thứ ba có đợt thực tập ở doanh nghiệp, làm gần như toàn thời gian trong một kỳ hè, hoặc một đến hai ngày mỗi tuần trong học kỳ. Sau đó, đồ án tốt nghiệp có thể làm ngay tại doanh nghiệp, có kỹ sư ở đó cùng hướng dẫn, và doanh nghiệp tham gia soạn một phần các môn học. Sinh viên đi hết chặng ấy coi như đã học trước một phần chương trình đào tạo dành cho nhân viên mới.